Xói lở bờ biển là hiện tượng tự nhiên phức tạp, nhưng hiện nay đang gia tăng nghiêm trọng do tác động kép của biến đổi khí hậu, triều cường, bão lũ và các hoạt động khai thác tài nguyên quá mức của con người, đặc biệt là ở vùng ĐBSCL và ven biển miền Trung.
Bối cảnh và mức độ nghiêm trọng của xói lở bờ biển Việt Nam

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260km, chạy dọc từ Móng Cái tới Hà Tiên, đưa quốc gia này vào nhóm những nước có bờ biển dài thứ 27 thế giới. Tuy nhiên, ranh giới đất liền và biển không hề bất biến mà liên tục thay đổi, có lúc lấn ra biển, có lúc lùi vào sâu trong đất liền. Hiện tượng xói lở tuy đã tồn tại từ lâu nhưng gần đây, giai đoạn từ năm 2020 trở đi, diễn biến phức tạp và gia tăng tốc độ đáng báo động.
Trước thập niên 1950–1960, quá trình bồi lắng chiếm ưu thế và tình trạng xói lở chưa rõ nét. Ngược lại, từ năm 1960 đến nay, xu hướng đảo ngược khi bồi lắng suy giảm trong khi xói lở gia tăng mạnh mẽ, khiến nhiều vùng ven biển mất đi hàng chục kilômét đường bờ.
Số liệu sơ bộ từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ghi nhận toàn quốc hiện có 2.229 điểm sạt lở bờ sông, bờ biển với tổng chiều dài hơn 2.837km. Cụ thể, khu vực ven biển miền Trung, trải dài từ Nghệ An đến Bình Thuận, ghi nhận 815 điểm sạt lở với chiều dài 1.200km.
Đồng bằng sông Cửu Long có 470 điểm, tương ứng 689km. Khu vực Bắc Bộ và Thanh Hóa có 439 điểm (394km).
Tây Nguyên cũng xuất hiện 388 điểm sạt lở (394km), trong khi Đông Nam Bộ có 117 điểm với chiều dài 160km. Mức độ thiệt hại phân hóa rõ rệt theo từng khu vực.
Miền Trung chịu tác động nặng nề nhất: Thanh Hóa mất khoảng 18km bờ biển, Nghệ An mất 45km, và Hà Tĩnh mất 60km. Tại miền Nam, bờ biển phía Tây Cà Mau bị sạt lở khoảng 57km, trong khi phía Đông có chiều dài sạt lở nguy hiểm khoảng 48km.
Các nguyên nhân tự nhiên chủ đạo gây xói lở bờ biển

Động lực tự nhiên tác động lên vùng bờ là nguyên nhân cốt lõi khiến tình trạng sạt lở gia tăng. Đặc điểm địa chất của đoạn bờ biển trải dài từ TP.
Hồ Chí Minh đến Kiên Giang là yếu tố tiên quyết. Khu vực này được hình thành từ các lớp trầm tích phù sa bở rời, thuộc tuổi địa chất trẻ, bao gồm Holoxen hiện đại và Pleistoxen muộn.
Cấu trúc đất chủ yếu gồm bùn sét màu nâu, xen kẽ cát và lẫn nhiều vụn xác sinh vật. Vì độ bền kết cấu thấp, chỉ cần tác động cơ học nhẹ từ sóng gió, lớp bề mặt đã dễ bị phá vỡ. Sau khi tan rã, phần lớn vật liệu bờ chuyển sang trạng thái bùn cát lơ lửng, trở nên rất dễ di chuyển dưới sự tác động của sóng và dòng chảy ven bờ.
Yếu tố khí tượng thủy văn xúc tác mạnh mẽ. Tại vùng biển Đông giáp bờ từ TP. Hồ Chí Minh đến mũi Cà Mau, sóng chủ đạo thổi từ hướng Đông với chiều cao trung bình 0.8 ÷ 1.0m, đỉnh điểm đạt 2.0m.
Ngược lại, khu vực bờ biển Tây từ mũi Cà Mau đến Kiên Giang chịu ảnh hưởng của sóng hướng Tây và Tây Nam, với chiều cao trung bình 0.6 ÷ 0.8m và giá trị lớn nhất khoảng 1.6m. Sóng vỡ khi truyền vào vùng nước nông sẽ giải phóng năng lượng, trực tiếp đào xới và mài mòn đáy bờ, tạo ra các dòng chảy phụ giúp vận chuyển bùn cát đi xa.
Chế độ gió mùa là nguồn gốc sinh ra sóng. Khu vực ĐBSCL chịu tác động luân phiên của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam.
Gió mùa Đông Bắc, hoạt động từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, có vận tốc trung bình 8-10 m/s và có thể lên tới 15-16 m/s. Hướng gió này gần như vuông góc với đường bờ biển mở về phía Đông, tạo ra những con sóng lớn.
Chính loại sóng này đã đào xới lớp bùn cát vốn được bồi tụ trong mùa gió Tây Nam. Kết hợp với dòng triều và hải lưu, toàn bộ lượng bùn cát này bị cuốn về phía Nam, trùng khớp với hướng di chuyển thực tế của trầm tích dọc dải ven biển từ TP. Hồ Chí Minh đến Cà Mau.
Hệ thống triều cũng góp phần không nhỏ vào quá trình xói lở. Biển Đông vận hành theo chế độ bán nhật triều không đều với biên độ triều lớn, dao động khoảng 2 ÷ 4m. Tốc độ lan truyền của triều rất nhanh, sinh ra vận tốc dòng chảy mạnh, đặc biệt nguy hiểm tại các vùng cửa sông khi chúng tấn công và làm xói lở đáy biển.
Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng

Biến đổi khí hậu đẩy nhanh tốc độ xói lở bờ biển nhờ làm mực nước biển dâng cao và gia tăng sức mạnh của bão lũ. Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu tác động nặng nề nhất.
Dữ liệu từ các trạm hải văn ven biển ghi nhận mức dâng trung bình khoảng 3mm mỗi năm trong giai đoạn 1993–2008, con số này khớp với xu hướng chung toàn cầu. Tại trạm Hòn Dấu, mực nước biển đã tăng khoảng 20cm trong vòng 50 năm qua.
Chi cục Thủy lợi tỉnh Cà Mau cung cấp số liệu cho thấy đỉnh triều cường năm sau luôn cao hơn năm trước với biên độ rõ rệt. Cụ thể, năm 2008 mức nước tăng 10cm so với năm trước, 2009 tăng 20cm, 2010 tăng 15cm, và 2011 tăng 25cm.
Hiện tượng triều cường cùng sự cộng hưởng của các dạng thời tiết cực đoan như lũ, bão và gió mùa gây mất cân bằng đường bờ. Đây là nguyên nhân chính khiến nước dâng cao, gây xói lở và ngập úng kéo dài.
Theo nhận định của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, từ năm 1961 đến 2010, số lượng bão đổ bộ vào Việt Nam có xu hướng tăng và dịch chuyển dần về phía Nam. Biến đổi khí hậu khiến cả tần suất lẫn cường độ bão gia tăng đều góp phần gây xói lở bờ biển và phá hủy các công trình dân sinh, kinh tế.
Vai trò của dòng chảy sông ngòi và tác động từ nội địa

Dòng chảy từ sông có ảnh hưởng trực tiếp đến sự cân bằng trầm tích tại vùng cửa sông và bờ biển. Hiện tượng "dòng nước đói" – thiếu hụt phù sa – là một trong những nguyên nhân gốc rễ khiến bờ biển bị sạt lở.
Việc xây dựng các đập trong lưu vực các hệ thống sông Mekong và Sài Gòn – Đồng Nai đã tác động trực tiếp, làm giảm lượng bùn cát cung cấp cho biển. Theo báo cáo của Ủy ban sông Mekong, kể từ năm 1966 đến nay đã có tổng cộng 24 đập thủy điện và hồ chứa nước trên các nhánh sông thuộc các nước thượng nguồn và 3 đập trên dòng chính phía Trung Quốc được xây dựng.
Theo nghiên cứu của Lu và Siew, sau khi đập Manwan trên dòng chính của Trung Quốc đi vào vận hành năm 1993, lượng phù sa phía hạ lưu giảm đi rất rõ rệt. Số liệu quan trắc cho thấy hàm lượng phù sa trung bình tại các trạm Tân Châu, Châu Đốc, Cần Thơ, Mỹ Thuận đã giảm đến 20 – 30%.
Trong phạm vi lưu vực hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai, hàng loạt đập thủy điện và hồ chứa thủy lợi cũng được xây dựng. Đập Trị An trên sông Đồng Nai bắt đầu vận hành năm 1987. Đập Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn năm 1985. Việc xây dựng các hồ đập này làm giảm lượng phù sa, bùn cát cung cấp cho biển, góp phần làm xói lở bờ biển.
Khi nguồn phù sa từ sông giảm, quá trình bồi tụ tại vùng cửa sông và ven biển bị đình trệ. Trong khi đó, sóng biển và dòng triều vẫn không ngừng đào xới, cuốn trôi vật liệu bờ. Sự mất cân bằng này khiến bờ biển bị lùi vào đất liền.
Ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế và con người
Các hoạt động của con người đã góp phần thúc đẩy tình trạng xói lở. Tại vùng ven biển Nam Bộ, sự suy giảm nghiêm trọng của rừng ngập mặn là tác động rõ rệt nhất.
Dữ liệu cho thấy diện tích rừng ngập mặn khu vực ĐBSCL đã giảm từ 250.000 ha năm 1950 xuống còn 45.790 ha vào năm 2001. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là việc khai thác quá mức, nạn chặt phá rừng để phục vụ nuôi trồng thủy sản trong những thập kỷ gần đây, khiến hệ sinh thái rừng bị suy thoái nặng nề.
Việc kết hợp nuôi trồng thủy sản với xây dựng các công trình ngọt hóa và tuyến đê ven biển, như tại Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Châu thuộc tỉnh Sóc Trăng, đã làm biến đổi môi trường, thu hẹp không gian phát triển của rừng ngập mặn. Điều này dẫn đến mất cân bằng sinh thái và địa động lực vùng bờ, gây ra xói lở nghiêm trọng.
Hoạt động khai thác cát và tài nguyên quá mức ở vùng ven biển cửa sông cũng là nguyên nhân trực tiếp. Nước thải từ nhiều nhà máy, khu công nghiệp và khu dân cư chưa được xử lý triệt để, khi thải ra các con sông và dồn về vùng cửa sông ven biển, đã gây hủy hoại các hệ sinh thái, làm gia tăng tình trạng xói lở.
Phân biệt xói lở bờ biển và sạt lở bờ sông
Xói lở bờ biển và sạt lở bờ sông tuy cùng là hiện tượng mất đất nhưng khác nhau về nguồn gốc tác động. Xói lở bờ biển chịu ảnh hưởng chính của sóng, thủy triều và gió, diễn ra trên dải đất ven biển rộng.
Ngược lại, sạt lở bờ sông phụ thuộc vào dòng chảy, lưu lượng nước và phù sa, tập trung ở lòng và bờ sông. Tại các vùng cửa sông, hai quá trình này thường xảy ra cùng lúc; việc thiếu phù sa từ sông sẽ làm giảm khả năng chống chọi của vùng cửa trước sức ép của biển.
Thực trạng xói lở bờ biển đang gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Tốc độ sạt lở ở bờ Tây Cà Mau dao động 20–25m/năm, có nơi đạt 50m/năm, trong khi bờ Đông ghi nhận mức trung bình 45–50m/năm. Mỗi năm, tỉnh này mất khoảng 300–400ha đất và rừng phòng hộ ven biển.
Tại Hội An, giai đoạn 2013–2020 (7 năm), hơn 7km bờ biển đã bị sạt lở, đặc biệt nghiêm trọng vào mùa mưa bão năm 2020 khi gần 8km bờ biển Cửa Đại chịu tác động mạnh, khiến biển Cửa Đại gần như biến mất. Các khu vực An Bàng, Tân Thành cũng đối mặt nguy cơ xóa sổ chỉ trong 1–2 năm tới.
Nguy cơ trở nên trầm trọng hơn khi nhiều nơi mất hoàn toàn diện tích rừng phòng hộ, khiến sóng biển tấn công trực tiếp. Hơn chục nghìn hộ dân ven biển cùng hơn 120.000ha đất nông nghiệp đang bị đe dọa tính mạng. Để ứng phó, Đề án “Bảo vệ và phát triển rừng vùng ven biển nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030” đã được đưa ra với mục tiêu trồng mới 20.000ha rừng, gồm 9.800ha rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển, cùng 15.000ha rừng bổ sung để phục hồi và làm giàu.
Một giải pháp kỹ thuật mới được áp dụng tại Bến Tre là sử dụng túi Geotube chứa đầy cát để làm kè giảm sóng. Phương án này có tổng chi phí gần 15 tỷ đồng, rẻ hơn 5 lần so với giải pháp bê tông truyền thống.
Song song với các biện pháp kỹ thuật, việc nâng cao khả năng chống chịu cho cộng đồng là ưu tiên nhất. Target đặt ra là hoàn thành 100% việc di dời hộ dân khỏi khu vực nguy cơ sạt lở bờ sông, bờ biển vào năm 2030.
Phấn đấu hoàn thành 90% diện tích trồng rừng ngập mặn ven biển tại các khu vực bãi biển ổn định, phù hợp điều kiện sinh thái, vào năm 2025. Giải quyết vấn đề xói lở bờ biển đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa kỹ thuật, sinh thái và quản lý, trong đó hiểu rõ nguyên nhân là nền tảng để xây dựng chiến lược bảo vệ bờ biển bền vững.