Thiên tai thường xuyên gây tổn thất nghiêm trọng về tài sản và sinh kế của người dân. Nhà nước triển khai hai hình thức hỗ trợ chính: cứu trợ khẩn cấp nhằm đảm bảo nhu yếu phẩm thiết yếu và hỗ trợ khôi phục sản xuất để tái thiết cuộc sống. Hai kênh này có quy trình xử lý khác nhau, đòi hỏi người dân phải nắm vững quy định pháp lý để kịp thời tiếp cận nguồn lực hỗ trợ.

Quy định pháp luật hiện hành về hỗ trợ thiệt hại do thiên tai

Theo quy định pháp luật hiện hành, việc hỗ trợ thiệt hại do thiên tai được chia thành hai nhóm chính: hỗ trợ khẩn cấp và hỗ trợ khôi phục sản xuất. Nhóm hỗ trợ khẩn cấp, căn cứ Nghị định 20/2021/NĐ-CP, tập trung vào các nhu cầu trước mắt. Người dân chịu ảnh hưởng được cung cấp lương thực với mức 15 kg gạo/người/tháng, kéo dài tối đa 01 tháng.

Trong trường hợp mất mùa hoặc bất khả kháng gây thiếu đói kéo dài, thời gian hỗ trợ có thể mở rộng không quá 03 tháng. Đối với các hộ mất nhà ở và không tự lo nổi nhu yếu phẩm, chính quyền hỗ trợ hiện vật bao gồm lều bạt, nước uống, thực phẩm, chăn màn, xoong nồi, chất đốt và xuồng máy.

Nhóm hỗ trợ khôi phục sản xuất dựa trên Nghị định 02/2017/NĐ-CP, nhằm tái thiết hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản thông qua hỗ trợ giống, vật tư và kinh phí.

Mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 01/7/2024 là 500.000 đồng, tăng 140.000 đồng so với trước đó. Các khoản hỗ trợ thương vong và mai táng được tính theo bội số của mức chuẩn này.

Cụ thể, người bị thương nặng tại nơi cư trú nhận hỗ trợ tối thiểu 10 lần mức chuẩn, tương đương 5.000.000 đồng. Với trường hợp người bị thương nặng ngoài nơi cư trú không có người thân chăm sóc, Chủ tịch UBND cấp huyện sẽ quyết định hỗ trợ dựa trên đề nghị của cơ quan cấp cứu, với thời hạn giải quyết tối đa 02 ngày.

Hộ gia đình có người chết hoặc mất tích do thiên tai được hỗ trợ chi phí mai táng tối thiểu 50 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội, tức 25.000.000 đồng. Việc mai táng người không người nhận cũng được hỗ trợ chi phí thực tế, tối thiểu 25.000.000 đồng.

Về hỗ trợ nhà ở, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ khó khăn có nhà bị đổ, sập, trôi hoàn toàn được hỗ trợ tối thiểu 40.000.000 đồng. Hộ phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở được hỗ trợ tối thiểu 30.000.000 đồng.

Hộ có nhà bị hư hỏng nặng không thể sinh sống được hỗ trợ sửa chữa tối thiểu 20.000.000 đồng. Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ do thiên tai được hỗ trợ tiền ăn, chi phí điều trị y tế và chi phí đưa về nơi cư trú hoặc cơ sở trợ giúp xã hội.

Trong trường hợp đặc biệt khẩn cấp, nghiêm trọng, việc chi trả lương thực, nhu yếu phẩm, chi phí điều trị và mai táng được thực hiện theo quy trình do Chủ tịch UBND cấp xã quyết định, bỏ qua bước bình xét để đảm bảo kịp thời, đúng đối tượng và minh bạch.

Đối tượng và điều kiện được hưởng hỗ trợ khôi phục sản xuất

Phạm vi đối tượng thụ hưởng hỗ trợ khôi phục sản xuất khá rộng, bao trùm các hộ nông dân, người nuôi trồng thủy sản, diêm dân, chủ trang trại và gia trại, cùng với các tổ hợp tác và hợp tác xã sản xuất hoạt động trong các ngành trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và sản xuất muối. Tuy nhiên, việc nhận hỗ trợ không phải là mặc định; hộ sản xuất bị thiệt hại phải thỏa mãn bốn điều kiện bắt buộc.

Điều kiện thứ nhất là phải tuân thủ quy hoạch. Hoạt động sản xuất phải đúng với quy hoạch, kế hoạch và hướng dẫn của chính quyền địa phương; những đơn vị sản xuất trái quy hoạch sẽ bị loại khỏi danh sách xét duyệt.

Điều kiện thứ hai liên quan đến tính đầy đủ của hồ sơ đăng ký ban đầu. Cụ thể, đối với các mô hình chăn nuôi tập trung như trang trại, gia trại, tổ hợp tác và hợp tác xã, bắt buộc phải có bản kê khai do UBND cấp xã xác nhận, theo mẫu quy định tại Phụ lục I của Nghị định 02/2017/NĐ-CP.

Thời hạn kê khai là 15 ngày kể từ khi bắt đầu chăn nuôi, và UBND cấp xã phải hoàn tất việc kiểm tra, xác nhận trong vòng 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ. Với hoạt động nuôi trồng thủy sản, việc kê khai và xác nhận được thực hiện ngay khi bắt đầu nuôi, hoặc có thể thay thế bằng giấy chứng nhận kiểm dịch nếu có.

Điều kiện thứ ba yêu cầu các biện pháp phòng ngừa và ứng phó phải được thực hiện đầy đủ và kịp thời. Hỗ trợ chỉ được xem xét khi hộ sản xuất đã tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn của cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương về công tác phòng tránh thiên tai và dịch bệnh.

Điều kiện thứ tư quy định về thời điểm xảy ra thiệt hại phải trùng khớp với khung thời gian pháp lý. Đối với thiên tai, thiệt hại phải diễn ra trong giai đoạn có thiên tai trên địa bàn, thời gian này cần được Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn địa phương xác nhận.

Đối với dịch bệnh, thiệt hại phải nằm trong khoảng thời gian từ khi công bố dịch đến khi công bố hết dịch. Trong trường hợp đặc biệt phát sinh ổ dịch đầu tiên, thời điểm xảy ra thiệt hại được tính từ lúc phát sinh đến khi kết thúc ổ dịch, bao gồm cả thời gian tiêu hủy gia súc, gia cầm theo yêu cầu phòng chống dịch.

Những quy định này nhằm đảm bảo nguồn lực hỗ trợ được phân bổ chính xác đến các đối tượng thực sự gặp khó khăn và có nỗ lực tự lực khôi phục sản xuất.

Các mức hỗ trợ cụ thể cho từng loại thiệt hại

Mức hỗ trợ được tính toán chi tiết theo từng nhóm cây trồng, vật nuôi và diện tích bị thiệt hại. Các con số này dựa trên Nghị định 02/2017/NĐ-CP.

Hỗ trợ cây trồng chia theo tỷ lệ thiệt hại. Diện tích lúa thuần bị thiệt hại trên 70% nhận hỗ trợ 2 triệu đồng mỗi hecta. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận 1 triệu đồng mỗi hecta.

Diện tích mạ lúa thuần bị thiệt hại trên 70% nhận 20 triệu đồng mỗi hecta. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận 10 triệu đồng mỗi hecta.

Diện tích lúa lai bị thiệt hại trên 70% nhận 3 triệu đồng mỗi hecta. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận 1,5 triệu đồng mỗi hecta.

Diện tích mạ lúa lai bị thiệt hại trên 70% nhận 30 triệu đồng mỗi hecta. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận 15 triệu đồng mỗi hecta.

Diện tích ngô và rau màu các loại bị thiệt hại trên 70% nhận 2 triệu đồng mỗi hecta. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận 1 triệu đồng mỗi hecta.

Diện tích cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm bị thiệt hại trên 70% nhận 4 triệu đồng mỗi hecta. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận 2 triệu đồng mỗi hecta.

Hỗ trợ sản xuất lâm nghiệp áp dụng mức cao hơn do thời gian thu hồi vốn dài. Diện tích cây rừng, cây lâm sản ngoài gỗ, vườn giống, rừng giống bị thiệt hại trên 70% nhận 4 triệu đồng mỗi hecta. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận 2 triệu đồng mỗi hecta.

Diện tích cây giống ươm trong vườn ươm bị thiệt hại trên 70% nhận 40 triệu đồng mỗi hecta. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận 20 triệu đồng mỗi hecta.

Hỗ trợ nuôi trồng thủy sản tính theo từng loại hình và mật độ. Diện tích nuôi tôm quảng canh bị thiệt hại trên 70% nhận hỗ trợ từ 4,1 đến 6 triệu đồng mỗi hecta. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận từ 2 đến 4 triệu đồng mỗi hecta.

Diện tích nuôi cá truyền thống và cá bản địa bị thiệt hại trên 70% nhận từ 7,1 đến 10 triệu đồng mỗi hecta. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận từ 3 đến 7 triệu đồng mỗi hecta.

Diện tích nuôi tôm sú bán thâm canh và thâm canh bị thiệt hại trên 70% nhận từ 6,1 đến 8 triệu đồng mỗi hecta. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận từ 4 đến 6 triệu đồng mỗi hecta.

Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng và cá tra thâm canh bị thiệt hại trên 70% nhận từ 20,5 đến 30 triệu đồng mỗi hecta. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận từ 10 đến 20 triệu đồng mỗi hecta.

Lồng, bè nuôi nước ngọt bị thiệt hại trên 70% nhận từ 7,1 đến 10 triệu đồng cho mỗi 100 mét khối lồng. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận từ 3 đến 7 triệu đồng cho mỗi 100 mét khối lồng.

Hỗ trợ chăn nuôi gia súc, gia cầm tính theo độ tuổi và chủng loại. Gia cầm đến 28 ngày tuổi nhận 10.000 đến 20.000 đồng mỗi con. Gia cầm trên 28 ngày tuổi nhận 21.000 đến 35.000 đồng mỗi con.

Lợn đến 28 ngày tuổi nhận 300.000 đến 400.000 đồng mỗi con. Lợn trên 28 ngày tuổi nhận 450.000 đồng đến 1 triệu đồng mỗi con. Lợn nái và lợn đực đang khai thác nhận 2 triệu đồng mỗi con.

Bê cái hướng sữa đến 6 tháng tuổi nhận 1 đến 3 triệu đồng mỗi con. Bò sữa trên 6 tháng tuổi nhận 3,1 đến 10 triệu đồng mỗi con.

Trâu, bò thịt, ngựa đến 6 tháng tuổi nhận 500.000 đến 2 triệu đồng mỗi con. Trâu, bò thịt, ngựa trên 6 tháng tuổi nhận 2,1 đến 6 triệu đồng mỗi con.

Hươu, nai, cừu, dê nhận hỗ trợ từ 1 đến 2,5 triệu đồng mỗi con.

Hỗ trợ sản xuất muối áp dụng mức 1,5 triệu đồng mỗi hecta đối với thiệt hại trên 70%. Thiệt hại từ 30% đến 70% nhận 1 triệu đồng mỗi hecta.

Các loại cây trồng, vật nuôi, thủy sản chưa được quy định cụ thể tại các điều khoản trên được xử lý linh hoạt. Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách, đặc điểm sản xuất và yêu cầu thực tế để quy định mức hỗ trợ phù hợp.

Thủ tục và hồ sơ đề nghị hỗ trợ

Cơ chế tiếp nhận áp dụng hình thức một cửa ngay tại Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, giúp người dân rút ngắn thời gian đi lại. Công tác xác định thiệt hại được tiến hành thông qua sự phối hợp giữa hộ sản xuất và các cơ quan chức năng địa phương, nhằm kiểm đếm chính xác diện tích và số lượng vật nuôi, cây trồng bị ảnh hưởng.

Tùy thuộc vào nguyên nhân gây thiệt hại, hồ sơ sẽ được nộp đến cơ quan khác nhau. Trường hợp do thiên tai, hồ sơ gửi tới Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn xã; ban này phối hợp báo cáo UBND cùng cấp để xử lý. Đối với thiệt hại do dịch bệnh, hồ sơ được nộp trực tiếp cho UBND xã.

Bộ hồ sơ đề nghị hỗ trợ bao gồm các giấy tờ bắt buộc theo quy định tại Phụ lục I Nghị định 02/2017/NĐ-CP, các Mẫu số 1, 2, 3, 4, 5 tương ứng với từng lĩnh vực: cây trồng, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi và sản xuất muối. Cần cung cấp bản kê khai số lượng ban đầu theo Mẫu số 6 Phụ lục I (áp dụng cho chăn nuôi tập trung hoặc nuôi trồng thủy sản) hoặc giấy chứng nhận kiểm dịch (nếu có).

Phải kèm theo Bảng thống kê thiệt hại do thiên tai hoặc dịch bệnh, có xác nhận của đại diện thôn, bản hoặc khu dân cư. Số lượng hồ sơ yêu cầu là 01 bộ bản chính; bản sao có thể được yêu cầu bổ sung khi cần đối chiếu.

Khi nhận hồ sơ, cán bộ chuyên môn sẽ kiểm tra tính hợp lệ. Nếu hồ sơ thiếu sót, người dân sẽ được hướng dẫn bổ sung theo Mẫu số 02. Trường hợp từ chối tiếp nhận, lý do sẽ được ghi rõ theo Mẫu số 03. Ngược lại, nếu hồ sơ hợp lệ, cán bộ sẽ tiếp nhận theo Mẫu số 01 và lập phiếu kiểm soát.

Thời gian thẩm định hồ sơ là 05 ngày. Nếu hồ sơ chưa đáp ứng yêu cầu, thông báo yêu cầu bổ sung sẽ được gửi trực tiếp hoặc qua mạng Internet. Nếu hồ sơ hợp lệ, lãnh đạo cơ quan sẽ xin ý kiến để thành lập Hội đồng kiểm tra.

Hội đồng này do Chủ tịch UBND cấp xã thành lập, với thành viên gồm đại diện UBND xã, cán bộ chuyên môn huyện, đại diện tổ chức xã hội và đại diện thôn bản. Nhiệm vụ của Hội đồng là xác minh thực tế trong vòng 05 ngày, lập biên bản ghi nhận mức độ thiệt hại và nhu cầu hỗ trợ cụ thể.

Sau khi có kết quả thẩm định, dự thảo văn bản trả lời cho hộ sản xuất và Bảng tổng hợp đề xuất hỗ trợ được hoàn thiện. Hồ sơ trình lãnh đạo UBND xã phê duyệt trong 01 ngày.

Lãnh đạo xã sẽ xem xét, ký xác nhận vào bản kê khai và phê duyệt bảng tổng hợp, sau đó thông báo kết quả trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cuối cùng, hồ sơ được đóng dấu, sao lưu và chuyển về UBND huyện để thẩm định, quyết định hỗ trợ theo thẩm quyền hoặc báo cáo UBND tỉnh.

Thời gian giải quyết và lưu ý quan trọng

Thời hạn giải quyết hồ sơ được quy định chặt chẽ. Chậm nhất 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.

Ủy ban nhân dân các cấp hoặc Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các cấp phải có ý kiến trả lời bằng văn bản. Hoặc thông báo kết quả giải quyết cho các hộ sản xuất trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương.

Quy trình được thiết kế để đảm bảo tính kịp thời. Nguồn lực hỗ trợ cần được giải ngân nhanh chóng để người dân tái thiết sản xuất.

Người dân cần lưu ý cam kết nội dung kê khai là đúng sự thật. Chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về thông tin cung cấp. Sai lệch thông tin có thể dẫn đến việc rút lại quyết định hỗ trợ và xử lý vi phạm.

Việc phối hợp với đại diện thôn, bản, khu dân cư để xác nhận thiệt hại là bước quan trọng. Thiếu xác nhận này, hồ sơ sẽ không được chấp nhận.

Cập nhật thường xuyên thông báo từ UBND xã về tiến độ thẩm định và phân bổ ngân sách hỗ trợ. Chủ động liên hệ bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nếu hồ sơ bị chậm trễ.

Nắm vững quy định pháp luật giúp người dân chủ động bảo vệ quyền lợi. Chuẩn bị hồ sơ đầy đủ ngay sau khi thiên tai xảy ra. Kiên nhẫn theo dõi tiến độ giải quyết.