Lượng mưa trung bình năm ở Quảng Ngãi dao động từ 2.000 mm đến 3.500 mm, phân bố có sự phân hóa sâu sắc giữa các tiểu vùng địa hình và tập trung tới 75% – 85% tổng vũ lượng vào mùa mưa lũ kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm. Vùng núi cao phía Tây như huyện Ba Tơ, Trà Bồng là nơi đón gió ẩm trực diện từ biển Đông nên có lượng mưa lên tới 3.200 – 3.800 mm/năm (thuộc hàng cao nhất cả nước), trong khi vùng đồng bằng ven biển và huyện đảo Lý Sơn lượng mưa dao động từ 2.000 – 2.400 mm/năm, tạo nên những thách thức thủy văn rất lớn giữa việc phòng chống lũ lụt dồn dập vào mùa thu đông và khô hạn thiếu nước tưới trong suốt 8 tháng mùa khô.
📌 Tóm Tắt Đặc Điểm Vũ Lượng & Thủy Văn Tỉnh Quảng Ngãi
- Lượng mưa trung bình toàn tỉnh: Khoảng 2.320 mm/năm, nằm trong nhóm các tỉnh có vũ lượng mưa lớn nhất khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Giai đoạn mưa đỉnh điểm: Tháng 10 và tháng 11 là hai tháng có lượng mưa lớn nhất, chiếm trên 55% lượng mưa cả năm. Nhiều đợt mưa dồn dập ghi nhận từ 400 – 700 mm chỉ trong vòng 48 giờ.
- Tâm mưa lớn nhất tỉnh: Huyện Ba Tơ và Trà Bồng (lượng mưa năm đạt trên 3.500 mm), là nguồn sinh thủy chính của lưu vực sông Trà Khúc và sông Vệ.
- Cập nhật thông số thực tế: Nhân dân và các cơ quan chỉ huy phòng chống thiên tai có thể theo dõi vũ lượng đo mưa và thời tiết Quảng Ngãi hôm nay để chủ động điều tiết mực nước hồ chứa và ứng phó ngập úng nội đồng kịp thời.
Bức tranh phân bố lượng mưa không đồng đều tại tỉnh Quảng Ngãi
Lượng mưa tại Quảng Ngãi là kết quả của sự tương tác giữa hoàn lưu gió mùa Đông Bắc, bão biển nhiệt đới và bức tường thành núi non Trường Sơn Nam. Do địa hình dốc đứng từ Tây sang Đông, lượng mưa phân hóa thành ba tiểu vùng rõ rệt:
1. Tiểu vùng mưa cực đại miền núi phía Tây (2.800 – 3.800 mm/năm)
Các huyện miền núi Ba Tơ, Trà Bồng, Minh Long, Sơn Hà, Sơn Tây là nơi các khối mây ẩm từ biển Đông thổi vào bị các dãy núi cao trên 1.000m chặn lại và nâng lên cưỡng bức. Quá trình đối lưu địa hình mãnh liệt biến khu vực này thành “tâm mưa” lớn nhất của miền Trung. Trạm khí tượng Ba Tơ từng ghi nhận lượng mưa năm kỷ lục vượt qua 4.200 mm. Những trận mưa xối xả trút xuống sườn núi dốc là căn nguyên tạo ra các đợt lũ quét kinh hoàng và làm sạt lở các tuyến đường huyết mạch như Quốc lộ 24, Quốc lộ 24B.
2. Tiểu vùng đồng bằng và duyên hải (2.000 – 2.400 mm/năm)
Dải đồng bằng duyên hải hẹp gồm thành phố Quảng Ngãi, thị xã Đức Phổ, các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức có lượng mưa trung bình dao động từ 2.000 đến 2.300 mm/năm. Mưa tại vùng này chủ yếu do hoàn lưu bão và áp thấp nhiệt đới mang lại vào các tháng 10 và 11. Do địa hình trũng thấp và chịu ảnh hưởng trực tiếp của triều cường biển Đông, nước lũ từ thượng nguồn dồn về gặp nước biển dâng cao khiến việc thoát lũ bị tắc nghẽn, gây ngập úng kéo dài hàng tuần lễ tại các khu dân cư trũng thấp.
3. Tiểu vùng huyện đảo Lý Sơn (1.800 – 2.200 mm/năm)
Huyện đảo Lý Sơn nằm cách bờ biển 15 hải lý, có lượng mưa trung bình thấp hơn đất liền (khoảng 2.050 mm/năm). Mưa trên đảo diễn ra dồn dập vào mùa bão nhưng do nền địa chất tro bụi núi lửa và cát san hô có độ thấm hút cực nhanh, đảo hầu như không có dòng chảy mặt tự nhiên (không có sông suối). Toàn bộ lượng nước mưa nếu không được trữ vào các bể chứa xi măng gia đình hoặc hồ chứa nước ngọt núi Thới Lới sẽ nhanh chóng ngấm xuống tầng cát biển, khiến hòn đảo đối mặt với nguy cơ thiếu nước ngọt sinh hoạt trầm trọng vào mùa khô.

Phân kỳ hai mùa mưa – khô và chu kỳ thủy văn sông Trà Khúc, sông Vệ
Chế độ dòng chảy trên các con sông tại Quảng Ngãi biến đổi nhịp nhàng theo chu kỳ hai mùa mưa khô của đặc điểm thời tiết và khí hậu Quảng Ngãi:
1. Mùa lũ dồn dập (Từ tháng 9 đến tháng 12)
Mùa lũ diễn ra trong thời gian ngắn ngủi chỉ khoảng 4 tháng nhưng tổng lượng dòng chảy chiếm tới 75% – 80% tổng lượng nước cả năm của các con sông. Đỉnh lũ thường xuất hiện dồn dập từ giữa tháng 10 đến cuối tháng 11, trùng khớp với thời điểm có tần suất bão lũ đổ bộ vào Quảng Ngãi cao nhất.
Sông Trà Khúc (dài 140 km, diện tích lưu vực 3.240 km²) và sông Vệ (dài 90 km, diện tích lưu vực 1.260 km²) có đặc điểm chung là lòng sông hẹp, độ dốc lưu vực lớn. Khi có mưa to thượng nguồn, nước lũ đổ về hạ du với tốc độ rất nhanh, chỉ sau 4 – 8 giờ nước đã dâng tràn bờ đê. Mực nước tại trạm thủy văn Trà Khúc có thể tăng vọt từ 3 – 5 mét chỉ sau một đêm, vượt mức báo động 3 gây chia cắt hoàn toàn các vùng trũng của huyện Tư Nghĩa, Nghĩa Hành và các phường ngoại thành thành phố Quảng Ngãi.

2. Mùa kiệt kéo dài và xâm nhập mặn (Từ tháng 1 đến tháng 8)
Trái ngược với cảnh lũ lụt cuồn cuộn cuối năm, suốt 8 tháng mùa khô, lượng mưa tích lũy chỉ chiếm từ 15% đến 25% vũ lượng cả năm. Từ tháng 4 đến tháng 7, thời tiết nắng nóng gay gắt kết hợp gió Lào làm lượng nước bốc hơi vượt xa lượng mưa bổ sung. Dòng chảy trên sông Trà Khúc và sông Vệ suy giảm nghiêm trọng, nhiều đoạn sông trơ đáy cát trắng.
Mực nước sông xuống quá thấp tạo điều kiện cho thủy triều biển Đông đẩy nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng qua các cửa biển Sa Cần, Cửa Đại, Mỹ Á. Độ mặn 4‰ có thể lấn sâu vào sông Trà Khúc từ 10 đến 15 km, uy hiếp trạm bơm cấp nước sinh hoạt cho cư dân thành phố Quảng Ngãi và trạm bơm tưới nông nghiệp của đập dâng Thạch Nham.

Bảng số liệu quan trắc lượng mưa 12 tháng tại các trạm thủy văn Quảng Ngãi
Dưới đây là bảng số liệu thống kê chuẩn xác lượng mưa bình quân nhiều năm (đơn vị: mm) đo đạc tại 4 trạm thủy văn đại diện cho 4 vùng sinh thái của tỉnh Quảng Ngãi:
Thách thức tiêu thoát nước và giải pháp thích ứng bền vững
Sự bất thường trong phân bố lượng mưa đặt ra bài toán hóc búa cho chính quyền và nhân dân Quảng Ngãi trong công tác phát triển kinh tế – xã hội:
1. Ngập úng cục bộ đô thị thành phố Quảng Ngãi
Thành phố Quảng Ngãi có cốt nền địa hình thấp và chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy triều sông Trà Khúc. Khi có những trận mưa cực đoan với cường suất trên 100 mm chỉ trong vòng 2 – 3 giờ kết hợp cùng lúc triều cường dâng cao, các cống tự chảy bị tê liệt hoàn toàn do nước sông tràn ngược vào hệ thống cống.
Hàng loạt tuyến đường huyết mạch như Hùng Vương, Quang Trung, Phan Chu Trinh, Lê Trung Đình bị ngập sâu từ 0.3 đến 0.6 mét, gây tắc nghẽn giao thông và làm tràn nước bẩn vào tầng trệt nhà dân. Tỉnh đang đầu tư nâng cấp hệ thống cống hộp kết hợp xây dựng các trạm bơm tiêu cưỡng bức ra sông Trà Khúc và nạo vét hồ điều hòa Bàu Cả để giải quyết triệt để vấn đề ngập úng nội đô.

2. Giải pháp chuyển dịch mùa vụ nông nghiệp và điều tiết hồ đập
Để thích ứng an toàn với đặc trưng vũ lượng, ngành nông nghiệp Quảng Ngãi đã đưa ra các giải pháp căn cơ:
- Né lũ cho vụ Hè Thu: Cơ cấu các giống lúa ngắn ngày chất lượng cao, xuống giống tập trung trong tháng 5 để đảm bảo thu hoạch dứt điểm toàn bộ diện tích lúa Hè Thu trước ngày 5 đến 10 tháng 9, tuyệt đối tránh để lúa bị ngập úng khi mùa mưa lũ bùng phát.
- Quy trình vận hành liên hồ chứa: Phối hợp nhịp nhàng giữa hồ thủy điện Đăkđrinh, hồ Nước Trong và hồ Liệt Sơn. Vào mùa mưa, các hồ chủ động tích nước cắt giảm lưu lượng lũ cho hạ du; vào mùa khô, xả nước định kỳ đẩy mặn và cấp nước tưới cho hơn 30.000 ha lúa thông qua hệ thống đại thủy nông đập dâng Thạch Nham.
- Trữ nước ngọt trên huyện đảo Lý Sơn: Xây dựng các hồ trữ nước mưa dung tích lớn trên miệng núi lửa Thới Lới và giếng khai thác nước ngầm tầng sâu được kiểm soát nghiêm ngặt, ngăn chặn nguy cơ xâm nhập mặn tầng nước ngầm của đảo tiền tiêu.
Câu hỏi thường gặp về lượng mưa tại Quảng Ngãi (FAQ)
1. Lượng mưa trung bình năm ở Quảng Ngãi cao hơn hay thấp hơn các tỉnh lân cận?
Lượng mưa trung bình năm của Quảng Ngãi (khoảng 2.320 mm) ở mức tương đương với tỉnh Quảng Nam nhưng cao hơn đáng kể so với tỉnh Bình Định (khoảng 1.800 – 2.000 mm) và Phú Yên (khoảng 1.600 – 1.800 mm). Điều này là do địa hình Quảng Ngãi có sườn núi Trường Sơn đón gió mùa Đông Bắc ẩm trực diện hơn.
2. Tháng nào trong năm ở Quảng Ngãi có lượng mưa thấp nhất?
Tháng 3 là tháng có lượng mưa thấp nhất trong năm tại Quảng Ngãi, lượng mưa đo được tại hầu hết các trạm chỉ dao động từ 25 mm đến 40 mm. Trời hầu như không mưa, nắng hanh và độ ẩm không khí thấp.
3. Xem dữ liệu đo mưa và cảnh báo lũ lụt tại các huyện thị Quảng Ngãi ở đâu?
Bạn có thể tra cứu trực tiếp lượng mưa đo được thời gian thực tại các trạm khí tượng thủy văn qua chuyên trang dự báo lượng mưa tại các huyện thị tỉnh Quảng Ngãi. Trang web liên tục cập nhật lượng mưa tích lũy và mực nước sông Trà Khúc, sông Vệ phục vụ công tác ứng phó lũ lụt.
4. Đập Thạch Nham giữ vai trò gì đối với nguồn nước Quảng Ngãi?
Đập dâng Thạch Nham (nằm trên sông Trà Khúc) là công trình thủy lợi đầu mối lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi, cung cấp nước tưới cho hơn 50.000 ha đất canh tác nông nghiệp của các huyện đồng bằng, đồng thời cấp nước thô cho Khu kinh tế Dung Quất và tạo dòng chảy điều tiết sinh thái cho hạ du vào mùa khô kiệt.