Khí hậu An Giang mang tính nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, phân thành hai mùa mưa và khô rõ rệt, kéo theo chế độ nhiệt ẩm cao quanh năm và hiện tượng mùa nước nổi đặc trưng. Lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 11, trong khi mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 thường nắng nóng, khô hạn. Đặc điểm này định hình trực tiếp cảnh quan đồng bằng sông Cửu Long, chu kỳ sinh trưởng cây trồng và các hoạt động du lịch sinh thái vùng Bảy Núi.

Khí hậu An Giang mang tính nhiệt đới gió mùa cận xích đạo

Nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, địa hình vừa có phù sa thấp vừa giáp chân dãy Bảy Núi khiến An Giang chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Sự giao thoa giữa gió mùa và vị trí gần đường xích đạo tạo nên nền nhiệt ổn định, độ ẩm cao và lượng mưa dồi dào. Điều kiện này duy trì hệ sinh thái ngập nước, hỗ trợ nông nghiệp lúa nước và phát triển du lịch sinh thái, đồng thời là cơ sở để xác định hai mùa mưa – khô chi phối mọi hoạt động sản xuất và đời sống trong năm.

Phân chia hai mùa mưa và khô cùng chế độ gió

Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 11, chịu chi phối của gió mùa Tây Nam. Hướng gió này mang hơi ẩm từ biển và vùng núi, gây mưa lớn tập trung, chiếm 90% đến 95% tổng lượng mưa cả năm. Gió mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 9, tốc độ trung bình 12,7 km/giờ, đạt đỉnh hơn 15,3 km/giờ vào tháng 8.
Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, thay bằng gió mùa Đông Bắc. Thời tiết hanh khô, ít mưa, nhiệt độ tăng cao, có lúc lên đến 37 độ C. Tốc độ gió giảm dần, xuống khoảng 11 km/giờ từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau, thấp nhất 10,1 km/giờ vào tháng 11.

Chế độ nhiệt và độ ẩm quanh năm

Nhiệt độ trung bình năm dao động 27 độ C đến 28 độ C, biên độ ngày đêm nhỏ (8-10 độ C). Tháng 4 và tháng 5 là thời điểm nóng nhất, nền nhiệt đạt 35-36 độ C. Ngược lại, tháng 12 và tháng 1 mát nhất, nhiệt độ giảm xuống 20-21 độ C. Dù nắng nóng, lớp mây dày che phủ từ tháng 4 đến tháng 11 lên đến 92%, giúp giảm bớt cường độ bức xạ mặt trời. Tháng 2 trời trong nhất, mây bao phủ chỉ khoảng 46%.
Độ ẩm trung bình năm nằm ở mức 75% đến 85%. Từ tháng 3 đến tháng 12, độ ẩm duy trì cao khoảng 91%, gây cảm giác oi bức. Tháng 1 và tháng 2 độ ẩm thấp hơn nhưng vẫn giữ mức bí bách do nền nhiệt và địa hình trũng.

Mùa nước nổi và hệ sinh thái đặc trưng

Hiện tượng nước dâng từ thượng nguồn sông Mekong đổ về tạo nên mùa nước nổi, diễn ra từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm. Nước tràn ngập đồng bằng, hình thành cảnh quan "bán ngập – bán nổi" đặc trưng. Nền khí hậu ẩm ướt cùng mực nước dâng cao nuôi dưỡng hệ sinh thái đa dạng: rừng tràm, lúa trời, đồng sen, bông súng và các loài thủy sản như tôm, cua, ốc bươu, cá linh, cá lóc.
Người dân thích nghi bằng các hoạt động mưu sinh trên sông nước như giăng lưới, hái sen, buôn bán trên thuyền. Du lịch cũng phát triển mạnh trong giai đoạn này, thu hút khách đến rừng tràm Trà Sư, làng nổi Châu Đốc và khu vực Bảy Núi để trải nghiệm cảnh quan và văn hóa sông nước.

Biến đổi khí hậu tác động thế nào đến thời tiết

Biến đổi khí hậu làm xáo trộn nhịp điệu thời tiết vốn có. Lũ về không còn đều đặn, có năm lũ muộn hoặc cạn, làm giảm sản lượng thủy sản tự nhiên. Ngược lại, mưa lớn bất chợt gây ngập úng diện rộng, phá hoại mùa màng và hạ tầng. Mùa khô kéo dài dẫn đến hạn hán, thiếu nước ngọt nghiêm trọng. Hiện tượng xâm nhập mặn cũng lan sâu vào nội đồng qua hệ thống sông ngòi liên vùng, đe dọa canh tác lúa và nuôi trồng thủy sản ngọt.
Để thích ứng, chính quyền và người dân áp dụng các giải pháp như luân canh lúa-cá, quản lý nước thông minh và canh tác sinh thái. Việc theo dõi sát sao dự báo thời tiết hàng tháng giúp người dân điều chỉnh lịch gieo trồng, thu hoạch và chủ động ứng phó với nắng nóng hoặc ngập úng bất thường.