Thời tiết Nam Bộ trong mùa khô thường xuyên biến động với nắng nóng gay gắt xen lẫn các trận mưa trái mùa. Nguyên nhân chính là sự kết hợp giữa pha lạnh của La Nina và ảnh hưởng của gió Tín phong bán cầu Bắc, gây ra những bất thường trong khí hậu.
Đồng thời, mực nước sông Mê Kông chịu tác động mạnh từ thủy triều và hoạt động xả nước của các nhà máy thủy điện ở thượng nguồn, làm trầm trọng thêm nguy cơ xâm nhập mặn lan sâu vào ĐBSCL. Việc nắm bắt rõ các diễn biến này giúp người dân và doanh nghiệp chủ động hơn trong việc ứng phó với thiên tai.
La Nina chi phối mùa khô và mưa trái mùa

Giai đoạn La Nina yếu hiện hữu khiến Nam Bộ đối mặt với tình trạng mưa trái mùa gia tăng so với năm 2024, song nhiệt độ mùa khô vẫn giữ ở mức không quá cao và các đợt nắng nóng kéo dài ít hơn. Tuy nhiên, thực tế thời tiết tuần qua cho thấy sự xen kẽ phức tạp giữa nắng nóng gay gắt và giông mưa trái mùa.
Cụ thể, từ cuối tuần trước, nhiễu động gió đông đã mang lại mưa kéo dài sang đầu tuần nay cho TP.HCM cùng các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long. Dù vậy, lượng mưa trong các đợt này thường có diện hẹp và cường độ nhỏ, khác biệt rõ rệt với những trận mưa to bất thường từng xảy ra trên diện rộng giữa tháng 2. Cơ bản mưa không đủ sức làm dịu đi cái oi bức của mùa khô.
Theo dự báo từ Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ, mưa trái mùa sẽ còn tiếp tục kéo dài đến ngày 11.3, sau đó nắng nóng sẽ hoành hành trở lại cho đến ngày 16.3 trước khi một đợt mưa khác xuất hiện. Sang cuối tháng 3, không khí lạnh hoạt động yếu, lệch hướng đông và gần như mất khả năng khuếch tán xuống khu vực này.
Ngược lại, áp thấp nóng phía tây hoạt động mạnh dần, tác động trực tiếp đến thời tiết. Những ngày cuối tháng, trời nắng nhiều với vài ngày nắng nóng diện rộng ở miền Đông và ven biên giới tây nam, kèm theo nguy cơ giông và mưa lớn do đối lưu nhiệt địa phương.
Tại TP.HCM, nhiệt độ cao nhất phổ biến từ 34 – 35 độ C, gây cảm giác nắng nóng gay gắt. Dự báo tháng 3, nhiệt độ sẽ tăng với nhiều đợt nắng nóng, đỉnh điểm lên tới 37 – 38 độ C. Số ngày nắng nóng ở miền Đông phổ biến từ 10 – 15 ngày, ven biên giới tây nam từ 2 – 7 ngày, trong khi số ngày nắng nóng ở mức ít hơn trung bình nhiều năm dao động từ 5 – 7 ngày.
Tổng lượng mưa ở Nam Bộ trong tháng 3 dự kiến cao hơn so với trung bình nhiều năm, phổ biến 20 – 50 mm, có nơi trên 70 mm, tương đương từ 10 – 40%. Sang tháng 4, mưa trái mùa vẫn tiếp tục, tổng lượng mưa cao hơn trung bình nhiều năm từ 10 – 30 mm. Tháng 5, tổng lượng mưa phổ biến cao hơn 5 – 15% so với trung bình nhiều năm cùng thời kỳ.
Cập nhật từ Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) cho thấy nhiệt độ bề mặt biển vùng xích đạo Thái Bình Dương đang mát hơn mức trung bình, xác nhận pha lạnh La Nina. Có đến 60% khả năng chuyển trở lại trạng thái trung tính trong tháng 3 – 5, tỷ lệ này tăng lên 70% trong tháng 4 – 6.2025.
Đặc điểm khí hậu và gió mùa Đông Bắc

Nam Bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc trưng bởi hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau.
Giai đoạn này chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió Tín phong bán cầu Bắc và gió mùa Đông Bắc. Loại gió gây ra mùa khô ở Nam Bộ là Tín phong bán cầu Bắc.
Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, từ Đà Nẵng (16ºB) trở vào, Tín phong bán cầu Bắc chiếm ưu thế. Khối gió này di chuyển từ cao áp cận nhiệt đới xuống xích đạo, bị lệch hướng bởi lực Coriolis, tạo thành gió đông bắc.
Gió Tín phong bán cầu Bắc là nguyên nhân chính tạo nên mùa khô ở Nam Bộ. Khi tràn xuống khu vực phía Nam, khối khí này mang tính chất khô, nóng do đã mất ẩm khi di chuyển qua các vùng đất liền và dãy Trường Sơn.
Từ Đà Nẵng trở vào, gió này gây mưa cho khu vực Trung Bộ, trong khi Nam Bộ lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của khối khí khô hạn. Điều này giải thích vì sao giữa mùa khô, bầu trời thường quang mây, ít mây đối lưu, độ ẩm không khí thấp và nắng nóng gay gắt kéo dài. Nhiệt độ trung bình mùa khô thường cao hơn mùa mưa từ 2 – 3 độ C, độ ẩm tương đối giảm mạnh, gây ra tình trạng thiếu nước cục bộ cho sinh hoạt và sản xuất.
Bên cạnh gió Tín phong, gió mùa Đông Bắc cũng góp phần trong việc hình thành thời tiết mùa khô. Khi các khối khí lạnh từ phương Bắc tràn xuống, chúng gặp chướng ngại vật địa hình và suy yếu dần trước khi đến Nam Bộ. Những đợt không khí lạnh yếu này chỉ gây mưa phùn hoặc mưa nhỏ diện hẹp ở các tỉnh miền Đông, không đủ sức làm thay đổi đặc trưng khô hạn của mùa khô.
Tuy nhiên, khi kết hợp với nhiễu động gió đông hoặc áp thấp phía tây, chúng có thể kích hoạt đối lưu nhiệt, tạo ra các cơn giông, mưa rào bất chợt. Đây chính là cơ chế hình thành mưa trái mùa trong giai đoạn giữa mùa khô.
Đặc điểm khí hậu Nam Bộ trong mùa khô còn thể hiện qua sự phân hóa rõ rệt giữa miền Đông và Tây Nam Bộ. Miền Đông thường nóng hơn, khô hạn hơn, trong khi Tây Nam Bộ chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ thủy triều và dòng chảy sông Mê Kông.
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm cũng lớn hơn, dao động từ 8 – 10 độ C. Độ ẩm không khí thường duy trì ở mức 60 – 70%, thấp hơn nhiều so với mùa mưa (trên 85%). Những đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho một số loại cây trồng chịu hạn, nhưng cũng gây áp lực lớn lên nguồn nước ngầm và mặt.
Diễn biến xâm nhập mặn tại ĐBSCL

Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cảnh báo xâm nhập mặn mùa khô năm nay ở mức cao hơn trung bình nhiều năm, dù không gay gắt như trong hai giai đoạn 2015 – 2016 và 2019 – 2020. Nguyên nhân một phần do các đập thủy điện thượng nguồn sông Mê Kông tăng cường xả nước để phục vụ phát điện, khiến mực nước tại các trạm thượng lưu vực hiện cao hơn mức trung bình nhiều năm.
Tại ĐBSCL, mực nước sông Tiền và sông Hậu chịu tác động kép từ thượng nguồn và biến động theo chu kỳ thủy triều. Cụ thể, trong những ngày đầu tháng 3, mực nước tại Tân Châu (sông Tiền) đạt 1,55 m và tại Châu Đốc (sông Hậu) là 1,75 m, đều cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,2 – 0,35 m.
Diễn biến xâm nhập mặn trên các nhánh sông ở ĐBSCL có xu hướng tăng cao theo đợt triều cường rằm tháng 2 âm lịch. Dự kiến từ nay đến ngày 20.3, chiều sâu ranh giới mặn 4‰ tại các cửa sông chính như Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây sẽ nằm trong khoảng 40 – 52 km; tại Hàm Luông là 50 – 58 km, Cổ Chiên từ 40 – 48 km, còn sông Hậu là 45 – 50 km. Mực nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng gây ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước tưới tiêu và sinh hoạt của hàng triệu hộ dân.
Để ứng phó, các địa phương cần tranh thủ tích trữ nước ngọt khi triều thấp, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động dân sinh. Trong thời gian tới, sẽ diễn ra các đợt xâm nhập mặn cao theo kỳ triều cường vào các giai đoạn từ ngày 11 – 15.3, tiếp đó là đợt từ 29.3 – 2.4 và một đợt nữa từ 27.4 – 1.5.
Tuy nhiên, từ cuối tháng 5, tình hình sẽ cải thiện khi Nam Bộ bước vào mùa mưa, nguồn nước ngọt từ thượng nguồn đổ về sẽ đẩy mặn ra biển, giúp cân bằng lại hệ sinh thái sông nước. Việc quản lý nguồn nước mặn cần dựa trên dự báo thủy văn và lịch triều cường chính xác; các kênh rạch nội đồng cần duy trì thông thoáng, tránh bồi lắng làm giảm lưu lượng dòng chảy.
Hệ thống đê biển và cống ngăn mặn cũng cần được kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ để đảm bảo hoạt động hiệu quả. Người dân vùng ven biển nên chủ động dự trữ nước ngọt, sử dụng tiết kiệm và cân nhắc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện mặn hóa.
Tác động của thủy điện thượng nguồn

Theo báo cáo tuần trước của Dự án giám sát hoạt động của các đập thủy điện sông Mê Kông (MDM), tổng lượng nước xả ra từ các đập trong khu vực đạt 1,6 tỉ m3, với phần lớn đến từ hai nhà máy Tiểu Loan và Nọa Trát Độ tại Trung Quốc.
Việc xả lũ liên tục và quy mô lớn này đã đẩy mực nước sông Mê Kông tăng cao bất thường, từ 1 đến 2 m so với mức trung bình, đặc biệt rõ rệt dọc theo tuyến biên giới giữa Thái Lan và Lào. Sự dao động đột ngột của dòng chảy do hoạt động vận hành đập không theo chu kỳ tự nhiên đang gây ra những tác động tiêu cực nghiêm trọng.
Đối với hệ sinh thái, tốc độ dâng hạ nước bất lợi khiến cá không thể di cư đúng thời điểm, rong rêu bị cuốn trôi và chuỗi thức ăn tự nhiên bị phá vỡ. Ngành nông nghiệp cũng đối mặt với thách thức trong việc dự báo lịch vụ mùa, dẫn đến nguy cơ ngập úng hoặc thiếu nước cục bộ, trong khi ngư dân vùng hạ lưu gặp khó khăn trong đánh bắt do môi trường sống của thủy sản bị xáo trộn.
Chế độ thủy văn tự nhiên của sông bị thay đổi, gây ra hiện tượng xói lở bờ sông và sạt lở đất, làm mất đi các bãi bồi tự nhiên vốn giúp lọc nước và cung cấp dinh dưỡng cho đất canh tác. Tình hình này nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về sự phối hợp chặt chẽ giữa các quốc gia trong lưu vực để quản lý nguồn nước bền vững, cân bằng giữa lợi ích phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái.
So sánh với các năm trước và dự báo
Đối chiếu với các mùa khô trước, tình trạng hạn mặn hiện tại có sự khác biệt. Dù xâm nhập mặn ở mức cao hơn trung bình nhiều năm, song không quá gay gắt như trong các giai đoạn 2015 – 2016 và 2019 – 2020. Yếu tố hỗ trợ chính là lượng mưa trái mùa tăng cùng nguồn xả từ thượng nguồn, giúp bù đắp phần nào cho nước ngọt, dù nắng nóng kéo dài vẫn gây áp lực lớn lên tài nguyên nước mặt và ngầm.
Về dự báo thời tiết, nắng nóng sẽ tiếp tục gia tăng xen lẫn các đợt mưa trái mùa ngắn hạn. Tổng lượng mưa dự kiến vượt trung bình nhiều năm, cụ thể tháng 3 cao hơn 20 – 50 mm, tháng 4 cao hơn 10 – 30 mm, và tháng 5 cao hơn 5 – 15%.
Số ngày nắng nóng ở miền Đông phổ biến từ 10 – 15 ngày, trong khi khu vực ven biên giới tây nam ghi nhận từ 2 – 7 ngày. Nhiệt độ cao nhất có thể chạm ngưỡng 37 – 38 độ C. Chuỗi ngày nắng nóng kéo dài ít hơn các năm trước nhờ ảnh hưởng của pha lạnh La Nina.
Theo Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), nhiệt độ bề mặt biển vùng xích đạo Thái Bình Dương hiện mát hơn mức trung bình, xác nhận pha lạnh La Nina đang hoạt động. Khả năng chuyển sang trạng thái trung tính là 60% trong khoảng tháng 3 – 5, và tăng lên 70% trong tháng 4 – 6.2025.
Khi La Nina suy yếu, thời tiết Nam Bộ sẽ dần ổn định, nắng nóng gay gắt giảm, mưa trái mùa ít đi, và mùa mưa dự kiến bắt đầu từ cuối tháng 5. So sánh với các năm El Niño mạnh như 2015 – 2016 và 2019 – 2020 – vốn gây hạn hán nghiêm trọng, xâm nhập mặn sâu và thiếu nước – thì năm nay với La Nina yếu giúp giảm nhẹ khô hạn, tuy nhiên mưa trái mùa nhiều lại gây khó khăn cho việc thu hoạch và bảo quản nông sản, đòi hỏi người dân linh hoạt điều chỉnh lịch canh tác.
Hướng dẫn ứng phó và tích trữ nước
Vào các kỳ triều cường, cụ thể là các đợt từ ngày 11.3 đến 15.3, từ 29.3 đến 2.4, và từ 27.4 đến 1.5, xâm nhập mặn sẽ lên cao, đòi hỏi người dân và doanh nghiệp phải chủ động ứng phó.
Để đảm bảo nguồn nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất, việc tích trữ nước ngọt cần được thực hiện khẩn trương khi mực nước sông ở mức thấp nhất, thường vào sáng sớm hoặc chiều tối, với nước được giữ trong bể kín để tránh nắng và bụi bẩn. Các địa phương cũng cần tranh thủ thời điểm này để tích trữ nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp và các hoạt động dân sinh.
Song song đó, việc nạo vét kênh rạch nội đồng nhằm tăng dung tích chứa và lắp đặt máy lọc mặn cho hộ dân vùng biển là những biện pháp thiết yếu. Người dân nên chuyển đổi cây trồng sang loại chịu mặn hoặc nuôi thủy sản phù hợp, đồng thời ưu tiên tưới nước vào sáng sớm hoặc chiều mát, tuyệt đối tránh tưới nước mặn cho cây nhạy cảm.
Doanh nghiệp cần rà soát lại hệ thống cấp nước, dự trữ nguyên liệu và linh hoạt điều chỉnh kế hoạch sản xuất. Bên cạnh việc cập nhật dự báo thủy văn và chuẩn bị sẵn xe bồn cùng bể chứa dự phòng, cộng đồng cần nhận thức rằng từ cuối tháng 5, xâm nhập mặn sẽ giảm dần do Nam Bộ bước vào mùa mưa, giúp nguồn nước ngọt từ thượng nguồn đổ về cân bằng hệ sinh thái và giảm áp lực khai thác nước ngầm.