Cấp độ rủi ro thiên tai từ 1 đến 5 là thước đo pháp lý chuẩn mực của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, được quy định chặt chẽ tại Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm xác định mức độ nguy hại tiềm ẩn của 22 loại hình thiên tai khí tượng thủy văn, địa chất và hải văn. Hệ thống năm cấp bậc đi kèm năm mã màu trực quan (Xanh lam – Vàng – Cam – Đỏ – Tím) là căn cứ cốt lõi để các cấp chính quyền kích hoạt kịch bản sơ tán dân cư, ban bố tình trạng khẩn cấp và điều động các lực lượng vũ trang cứu nạn kịp thời.

📌 Cảnh Báo Phòng Chống Thiên Tai Vùng Rốn Lũ Miền Trung

Khi bản tin khí tượng thủy văn phát lệnh cảnh báo rủi ro thiên tai do bão lũ đạt cấp 3 (màu cam) hoặc cấp 4 (màu đỏ) đổ bộ vào khu vực Thừa Thiên Huế, người dân và ban chỉ huy các xã phường cần lập tức đối soát thời tiết Huế hôm nay kết hợp kịch bản vận hành liên hồ chứa sông Hương, sông Bồ để di dời người già và tài sản lên cao trước khi ngập sâu chia cắt.

1. Khái niệm và cơ sở pháp lý của cấp độ rủi ro thiên tai tại Việt Nam

Theo Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg, rủi ro thiên tai là sự suy giảm về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và hoạt động kinh tế – xã hội do thiên tai gây ra trong một phạm vi không gian và thời gian xác định. Để đo lường mức độ này, Nhà nước thiết lập Hệ thống phân cấp độ rủi ro thiên tai gồm 5 cấp độ tăng dần, đánh số từ Cấp 1 đến Cấp 5.

Việc xác định cấp độ rủi ro không đơn thuần chỉ dựa vào cường độ vật lý của thiên tai (như sức gió hay lượng mưa) mà là hàm tích hợp của ba biến số khoa học then chốt:

  • Cường độ hiện tượng thiên tai (Hazard): Tốc độ gió, lượng mưa tích lũy, chiều cao sóng, mức đỉnh lũ lịch sử hoặc độ rung chấn động đất.
  • Phạm vi không gian tác động (Exposure): Diện tích lãnh thổ bị ảnh hưởng, bao gồm một xã, một huyện, một tỉnh, một vùng liên tỉnh hay phạm vi toàn quốc.
  • Mức độ phơi bày và tính dễ bị tổn thương (Vulnerability): Mật độ dân cư sinh sống, chất lượng công trình nhà ở, cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống đê điều hồ đập và năng lực tự vệ ứng phó của cộng đồng địa phương.
Sơ đồ 5 cấp độ rủi ro thiên tai từ cấp 1 đến cấp 5 theo quy định pháp lý phòng chống thiên tai Việt Nam
Hình 1: Cấu trúc 5 cấp độ rủi ro thiên tai tăng dần theo mức độ nghiêm trọng và quy mô phân cấp chỉ huy.

Mỗi khi bản tin thời tiết được phát sóng, việc xác định cấp độ rủi ro phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình ban hành tin bão và truyền tin thiên tai của cơ quan khí tượng quốc gia nhằm bảo đảm tính pháp lý cao nhất.

2. Bảng đối chiếu 5 cấp độ rủi ro thiên tai: Mã màu, ý nghĩa và thẩm quyền chỉ đạo

Nhằm tạo sự đồng bộ hóa tuyệt đối trên toàn quốc từ bản đồ dự báo khí tượng đến bảng tin chỉ đạo dân phòng, Quyết định 18/2021/QĐ-TTg quy định 5 cấp độ rủi ro gắn liền với 5 mã màu chuẩn mực như sau:

Cấp Độ & Mã Màu Tên Gọi Chuẩn Pháp Lý Mức Độ Thiệt Hại & Ảnh Hưởng Thẩm Quyền Chỉ Đạo Ứng Phó Hành Động Trọng Tâm Của Người Dân
Cấp 1
(Xanh lam)
Rủi ro Nhỏ Ít có nguy cơ thiệt hại về người; thiệt hại tài sản ở mức cục bộ, tự khắc phục được. Chủ tịch UBND cấp xã / cấp huyện. Theo dõi thông tin dự báo; chủ động bảo vệ hoa màu và chằng chống nhà ở đơn giản.
Cấp 2
(Màu Vàng)
Rủi ro Trung bình Có thể gây thiệt hại về người và phương tiện; gây gián đoạn giao thông, ngập úng cục bộ. Chủ tịch UBND cấp huyện / cấp tỉnh. Kê cao tài sản; đưa tàu thuyền vào nơi trú ẩn an toàn; hạn chế ra ngoài khi mưa gió lớn.
Cấp 3
(Màu Cam)
Rủi ro Lớn Nguy cơ cao gây thương vong lớn; phá hủy diện rộng nhà cửa, cầu cống, công trình ven biển. Chủ tịch UBND cấp tỉnh / Bộ trưởng các Bộ ngành liên quan. Sơ tán khẩn cấp khỏi vùng trũng thấp, sạt lở; dự trữ lương thực 3 – 5 ngày; cấm biển.
Cấp 4
(Màu Đỏ)
Rủi ro Rất lớn Đe dọa nghiêm trọng tính mạng hàng vạn người; tê liệt giao thông liên tỉnh; vỡ hồ đập. Thủ tướng Chính phủ / Ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng thủ dân sự. Cưỡng chế sơ tán 100%; ở yên trong công trình bê tông kiên cố; tuyệt đối không ra ngoài.
Cấp 5
(Màu Tím)
Rủi ro Thảm họa Thảm họa thiên nhiên tàn khốc trên diện rộng; đe dọa an ninh quốc gia và sự tồn vong kinh tế. Chủ tịch nước / Ban bố Tình trạng khẩn cấp toàn quốc. Huy động toàn bộ quân đội, công an, trưng dụng mọi nguồn lực quốc gia để ứng cứu sinh mạng.

Khi các cơn bão mạnh cấp 12 trở lên tiến sát bờ biển, cấp độ rủi ro thường được nâng từ cấp 3 lên cấp 4 kết hợp cùng tin bão khẩn cấp nhằm giúp các địa phương kịp thời ra lệnh giới nghiêm hoặc cấm đường hoàn toàn.

Hệ thống 5 mã màu cảnh báo thiên tai hiển thị trên bản đồ khí tượng thủy văn tác nghiệp
Hình 2: Bản đồ tác nghiệp thời tiết thể hiện phân vùng mã màu cảnh báo rủi ro thiên tai trực quan.

3. Quy chuẩn phân cấp cụ thể đối với từng loại hình thiên tai bão, áp thấp và nước dâng

Mỗi loại hình thiên tai có ngưỡng thông số khí tượng riêng để kích hoạt từng cấp rủi ro tương ứng. Dưới đây là các tiêu chuẩn tiêu biểu áp dụng cho bão và các hiện tượng thời tiết biển cực đoan:

Phân cấp rủi ro đối với bão nhiệt đới

  • Rủi ro Cấp 3 (Màu Cam): Bão mạnh (từ cấp 8 đến cấp 11) hoạt động trên vùng biển Biển Đông hoặc đổ bộ trực tiếp vào đất liền các tỉnh ven biển; hoặc áp thấp nhiệt đới mạnh xuất hiện trên vùng biển có hoạt động hàng hải dày đặc.
  • Rủi ro Cấp 4 (Màu Đỏ): Bão rất mạnh (từ cấp 12 đến cấp 15) hoặc siêu bão (từ cấp 16 trở lên) đổ bộ trực tiếp vào vùng bờ biển; hoặc bão mạnh cấp 10 – 11 đổ bộ vào các đô thị đông dân, vùng trũng thấp có nguy cơ vỡ đê biển.
  • Rủi ro Cấp 5 (Màu Tím): Siêu bão từ cấp 16 trở lên đổ bộ trực tiếp vào các trung tâm kinh tế, chính trị trọng điểm ven biển với mức độ tàn phá hủy diệt toàn bộ công trình hạ tầng.

Tại các vùng hải phận xa bờ, cơ quan chuyên môn luôn ban bố tọa độ vùng nguy hiểm trên biển tương ứng với mức rủi ro cấp 3 để toàn bộ tàu thuyền và giàn khoan dầu khí chủ động phương án sơ tán người lao động.

Lực lượng chức năng kích hoạt kịch bản sơ tán dân cư khi phát lệnh rủi ro thiên tai cấp 4 màu đỏ
Hình 3: Di dời người dân khỏi các chòi canh nuôi trồng thủy sản khi rủi ro thiên tai được nâng lên Cấp 4.

Hiểm họa nước dâng và sóng thần khí tượng

Một trong những tác nhân nguy hiểm nhất đẩy cấp độ rủi ro lên nấc thang cao nhất là hiện tượng nước dâng do bão. Khi bão mạnh kết hợp cùng kỳ triều cường, mực nước biển có thể dâng cao đột ngột từ 2 đến 4 mét trong vòng vài giờ, tràn qua đỉnh đê biển và nhấn chìm toàn bộ các khu dân cư ven bờ, gây nguy cơ rủi ro thiên tai cấp 4 hoặc cấp 5.

4. Ví dụ thực tế từ các siêu bão lịch sử đổ bộ vào Việt Nam

Để hình dung rõ nét cách vận hành của hệ thống 5 cấp độ rủi ro trên thực địa, chúng ta có thể nhìn lại các cơn bão cuồng phong trong lịch sử:

  • Siêu bão Yagi (Bão số 3 năm 2024): Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia đã phát cảnh báo Rủi ro thiên tai Cấp 4 (Màu Đỏ) cho vùng biển vịnh Bắc Bộ và các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng; đồng thời cảnh báo rủi ro Cấp 3 cho các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Đây là mức cảnh báo đỏ hiếm hoi trong lịch sử khí tượng Việt Nam, giúp các lực lượng quân đội điều động hơn 400.000 cán bộ chiến sĩ túc trực và sơ tán hơn 50.000 người dân an toàn.
  • Bão Damrey (Bão số 12 năm 2017): Đổ bộ vào Nam Trung Bộ (Khánh Hòa – Phú Yên) với cấp độ rủi ro được xác định ở mức Cấp 4 do cơ sở hạ tầng khu vực này vốn rất ít khi phải đối mặt với bão mạnh trên cấp 12, dẫn đến tính dễ tổn thương của nhà ở lợp tôn và lồng bè thủy sản cực kỳ cao.
  • Bão Xangsane (Bão số 6 năm 2006): Khi đổ bộ vào Đà Nẵng – Thừa Thiên Huế, sức gió cấp 13 đã kích hoạt các biện pháp phòng chống tương đương cấp độ 4, khiến toàn bộ mạng lưới điện cao thế miền Trung bị tê liệt nhiều ngày.
Ban chỉ đạo phòng thủ dân sự quốc gia họp trực tuyến điều hành ứng phó thảm họa thiên tai cấp 5 màu tím
Hình 4: Phiên họp điều hành trực tuyến khẩn cấp ứng phó các tình huống rủi ro thiên tai mức độ nghiêm trọng.

5. Hành động chuẩn mực của người dân theo từng mã màu cảnh báo

Mỗi người dân cần ghi nhớ nằm lòng cẩm nang phản ứng nhanh tương ứng với từng cấp độ rủi ro thiên tai:

  1. Khi thấy Cảnh báo Cấp 1 (Xanh lam): Tiếp tục sinh hoạt và lao động bình thường; thường xuyên mở tivi, radio hoặc điện thoại theo dõi bản tin dự báo hàng ngày.
  2. Khi thấy Cảnh báo Cấp 2 (Màu Vàng): Thu hoạch sớm nông sản, hoa màu; chằng chống mái nhà, chặt tỉa cành cây lớn quanh nhà; đưa thuyền bè vào bờ hoặc nơi neo đậu có kiểm soát.
  3. Khi thấy Cảnh báo Cấp 3 (Màu Cam): Dự trữ nước uống, thực phẩm đóng hộp, thuốc men và đèn pin đủ dùng trong 3 đến 5 ngày; đóng chặt cửa sổ bằng thanh nẹp chữ X; tuân thủ nghiêm lệnh cấm biển và di dời khỏi nhà cấp 4 yếu ớt.
  4. Khi thấy Cảnh báo Cấp 4 (Màu Đỏ): Tuyệt đối không ra khỏi công trình kiên cố; chấp hành nghiêm lệnh cưỡng chế sơ tán của chính quyền; ngắt toàn bộ cầu dao điện và khóa van bình gas trước khi rời nhà.
  5. Khi thấy Cảnh báo Cấp 5 (Màu Tím): Kích hoạt chế độ sinh tồn thảm họa cao nhất; tuân thủ hoàn toàn theo sự điều phối của quân đội và lực lượng cứu nạn đặc nhiệm quốc gia.

5. Quản lý thảm họa liên hoàn (Compound Disasters) và ranh giới nâng cấp độ rủi ro

Một bước tiến khoa học vượt bậc trong Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg so với các văn bản pháp luật trước đây là quy định cụ thể về Thảm họa liên hoàn hay Rủi ro thiên tai kép. Trên thực tế, thiên tai hiếm khi xuất hiện đơn lẻ mà thường kích hoạt chuỗi phản ứng dây chuyền thảm khốc:

  • Bão kết hợp triều cường và nước dâng: Một cơn bão chỉ ở cường độ cấp 10 (thông thường rủi ro Cấp 2 hoặc Cấp 3) nhưng nếu đổ bộ đúng vào thời điểm đỉnh triều cường rằm tháng Tám hoặc mùng Một âm lịch, hiện tượng nước dâng do bão sẽ dồn nước biển tràn qua đê, biến một đợt bão bình thường thành thảm họa ngập mặn rủi ro Cấp 4 nguy hiểm tính mạng.
  • Bão kết hợp không khí lạnh và lũ quét: Khi hoàn lưu bão tương tác với đới gió mùa Đông Bắc tràn về, mưa cực đoan có thể đạt lượng mưa 700 – 1.000 mm trong vòng 48 giờ. Mưa lớn liên tục làm đất bão hòa nước trên các sườn núi dốc đứng, gây ra lũ quét và sạt lở đất chôn vùi cả thôn bản tại các vùng núi phía Bắc và duyên hải miền Trung. Trong kịch bản này, cấp độ rủi ro thiên tai sẽ được nâng lên một bậc (từ Cấp 3 lên Cấp 4).
  • Vỡ hồ đập và ngập lụt vùng hạ du: Khi các hồ chứa thủy lợi, thủy điện vượt dung tích thiết kế buộc phải xả tràn trong lúc hạ lưu đang bị triều cường ngăn dòng, mức độ nguy hiểm đối với các đô thị vùng hạ du sông Hồng hay sông Hương sẽ lập tức chạm ngưỡng báo động khẩn cấp Cấp 4.

Trách nhiệm pháp lý và thẩm quyền cưỡng chế di dời của chính quyền địa phương

Luật Phòng, chống thiên tai quy định rõ: Khi cấp độ rủi ro thiên tai đạt từ Cấp 3 trở lên, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các cấp có toàn quyền ra lệnh và thực thi các biện pháp hành chính đặc biệt:

  1. Quyền quyết định cưỡng chế sơ tán: Trường hợp người dân không tự nguyện di dời khỏi vùng có nguy cơ cao về sạt lở đất, lũ quét hoặc nhà ở không an toàn trước giờ bão đổ bộ, lực lượng chức năng được phép áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính để đưa người dân đến nơi tránh trú an toàn, bảo vệ quyền được sống của công dân.
  2. Quyền huy động phương tiện và tài sản dân sự: Chính quyền có quyền trưng dụng tạm thời các phương tiện vận tải (xe tải, tàu thuyền cứu hộ), kho bãi, trường học và vật tư y tế của các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn để phục vụ ứng cứu khẩn cấp, có chế độ bồi hoàn theo luật định.
  3. Kỷ luật đối với người đứng đầu lơ là nhiệm vụ: Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, Chủ tịch UBND xã, huyện nếu chủ quan, không triển khai nghiêm túc các phương án phòng chống tương ứng với cấp độ rủi ro thiên tai đã ban bố dẫn đến thiệt hại về người sẽ bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

7. Câu hỏi thường gặp về cấp độ rủi ro thiên tai (FAQ)

Cơ quan nào có thẩm quyền công bố cấp độ rủi ro thiên tai?

Tổng cục Khí tượng Thủy văn và Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn duy nhất có thẩm quyền xác định và công bố cấp độ rủi ro thiên tai trong các bản tin dự báo, cảnh báo chính thức theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Việt Nam đã từng ban bố rủi ro thiên tai Cấp 5 (Màu Tím) chưa?

Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam chưa từng phải ban bố cấp độ rủi ro thiên tai Cấp 5 (Cấp thảm họa). Mức rủi ro cao nhất từng được kích hoạt trên thực tế là Cấp 4 (Màu Đỏ), điển hình trong các siêu bão lịch sử như bão Haiyan (2013) và bão Yagi (2024).

Cấp độ rủi ro thiên tai có giống với cấp gió bão Beaufort không?

Không giống nhau. Cấp gió Beaufort (từ cấp 0 đến cấp 17) chỉ đo vận tốc gió vật lý đơn thuần. Trong khi đó, cấp độ rủi ro thiên tai (từ cấp 1 đến cấp 5) là chỉ số tổng hợp giữa cường độ gió, lượng mưa, mật độ dân cư và mức độ phơi bày tổn thương của cơ sở hạ tầng tại địa phương chịu ảnh hưởng.

Tại sao cùng một cơn bão cấp 10 nhưng ở địa phương này cảnh báo Cấp 2, nơi khác lại Cấp 3?

Bởi vì mức độ rủi ro phụ thuộc vào tính dễ bị tổn thương. Một địa phương có địa hình trũng thấp, đê điều yếu, tập trung đông dân cư hoặc nhiều lồng bè nuôi trồng thủy sản sẽ có mức rủi ro Cấp 3 hoặc Cấp 4; trong khi địa phương có công trình kiên cố, địa hình cao ráo chỉ chịu rủi ro ở Cấp 2.

Khi nào người dân bắt buộc phải sơ tán theo quy định pháp luật?

Khi cơ quan có thẩm quyền ban bố rủi ro thiên tai từ Cấp 3 (Màu Cam) trở lên kèm theo lệnh sơ tán khẩn cấp của Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Tại mức Cấp 4 (Màu Đỏ), chính quyền có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế sơ tán đối với các cá nhân cố tình không chấp hành nhằm bảo đảm an toàn tính mạng.