Hưng Yên rất hiếm khi phải trực tiếp hứng chịu tâm bão với sức gió cuồng phong cấp 11 – 12 do nằm sâu trong nội địa và được các tỉnh ven biển như Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình che chắn bớt năng lượng, nhưng tỉnh lại đối mặt với nguy cơ thiên tai thứ cấp cực kỳ nghiêm trọng từ hoàn lưu bão gây mưa đặc biệt lớn kết hợp lũ dồn dập từ thượng nguồn sông Hồng đổ về. Khi các cơn bão mạnh từ vịnh Bắc Bộ đổ bộ vào đất liền, sức gió bão khi vượt qua đồng bằng duyên hải vào tới Hưng Yên thường suy yếu xuống cấp 6 – 8 (tương đương áp thấp nhiệt đới); tuy nhiên, các dải mây hoàn lưu sau bão lại trút xuống lượng mưa từ 200 mm đến trên 350 mm trong thời gian ngắn, gây ngập úng nghiêm trọng cho các vùng cây ăn quả, đe dọa các điểm xung yếu dọc 67 km đê tả sông Hồng và làm ngập lụt các vùng bãi bồi ngoài đê.
📌 Tóm tắt thực tế rủi ro bão lũ tại tỉnh Hưng Yên:
- Khả năng tâm bão đổ bộ trực tiếp: Cực kỳ thấp (cách bờ biển gần nhất từ 50 – 70 km theo đường chim bay). Gió bão trực tiếp ít khi gây sập đổ các công trình kiên cố.
- Nguy cơ thiên tai lớn nhất: Mưa lớn cực đoan kéo dài do hoàn lưu bão, ngập úng nội đồng và nước lũ thượng nguồn sông Hồng dâng cao uy hiếp hệ thống đê điều.
- Mùa bão ảnh hưởng nhiều nhất: Từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm, cao điểm tập trung dày đặc nhất vào tháng 8.
- Điểm nóng ngập lụt và sạt lở: Các xã vùng bãi bồi ngoài đê sông Hồng thuộc huyện Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, TP Hưng Yên; các vùng trũng nội đồng huyện Ân Thi, Yên Mỹ và hệ thống sông trục Bắc Hưng Hải.
- Cập nhật diễn biến khẩn cấp: Khuyến nghị người dân và du khách thường xuyên kiểm tra thông tin mưa bão và mực nước sông tại trang thời tiết tại Hưng Yên để chủ động chằng chống nhà cửa và kê cao tài sản nông sản.
Hiểu đúng về bản chất bão lũ tại Hưng Yên là yếu tố then chốt giúp xóa bỏ tâm lý chủ quan “đồng bằng không sợ bão”. Trong lịch sử phòng chống thiên tai miền Bắc, những tổn thất kinh tế nặng nề nhất đối với tỉnh Hưng Yên không phát sinh từ gió giật ngã cây cối, mà chính là dòng nước lũ cuồn cuộn từ thượng nguồn đổ về ngã ba sông làm ngập trắng các vườn nhãn tiến vua, vườn cam Văn Giang và nguy cơ rò rỉ, mạch sủi qua thân đê đất phù sa cổ.

1. Bảng phân cấp rủi ro thiên tai và tác động của bão đối với tỉnh Hưng Yên
Dựa trên đặc thù địa hình đồng bằng trũng thấp và mạng lưới đê điều bao bọc, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Hưng Yên phân loại các cấp độ rủi ro thiên tai do bão lũ gây ra như sau:
| Hình thái thiên tai | Cấp độ rủi ro | Khu vực trọng điểm bị ảnh hưởng | Hậu quả thực tế & biện pháp ứng phó |
|---|---|---|---|
| Gió bão & dông lốc xoáy | Cấp 1 – 2 (Trung bình) | Toàn tỉnh, khu đô thị Mỹ Hào, TP Hưng Yên | Gió giật cấp 6 – 8 làm gãy cành nhãn đang độ quả chín, tốc mái tôn nhà tạm, đổ cây xanh ven đường. Cần chằng chống nhà xưởng trước bão. |
| Mưa lớn hoàn lưu sau bão | Cấp 3 (Rất cao) | Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ, Ân Thi, Tiên Lữ | Vũ lượng từ 150 – 350 mm/24h gây ngập úng các vườn cam, vườn nhãn và khu công nghiệp. Cần chủ động hạ thấp mực nước đệm các kênh tiêu. |
| Ngập lụt vùng bãi bồi ngoài đê | Cấp 3 – 4 (Đặc biệt nghiêm trọng) | Vùng bãi bồi ven sông Hồng tại Văn Giang, Khoái Châu | Nước sông dâng ngập trắng các trang trại chăn nuôi bò, vườn chuối và nhà dân ngoài đê. Cần kích hoạt phương án di dời dân cư khẩn cấp. |
| Áp lực nước lũ đè lên thân đê | Cấp 3 (Báo động lũ II – III) | Tuyến đê tả ngạn sông Hồng và đê tả sông Luộc | Mực nước sông dâng cao gây hiện tượng thẩm lậu, rò rỉ, mạch đùn, mạch sủi qua thân đê. Cần bố trí lực lượng tuần tra canh gác 24/24h. |
| Sạt lở bờ bãi ven sông | Cấp 3 (Nghiêm trọng) | Các đoạn bờ sông dòng chảy xiết tại Kim Động, Tiên Lữ | Dòng nước lũ xiết khoét sâu chân bờ bãi, làm sụt trượt hàng nghìn mét khối đất canh tác xuống lòng sông. Cần thả đá hộc hộ chân bờ. |
2. Vì sao gió bão trực tiếp ít tàn phá nhưng mưa hoàn lưu lại là hiểm họa số một?
Nhiều người thường đặt câu hỏi: tại sao Hưng Yên hiếm khi thấy cảnh nhà sập vì bão nhưng mỗi mùa mưa bão đến, toàn bộ hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở đều phải căng mình trực chiến? Câu trả lời nằm ở 3 nguyên nhân thủy văn và địa lý cốt lõi:
2.1. “Vùng đệm duyên hải” làm suy giảm vận tốc gió bão
Khi các cơn bão mạnh cấp 11 – 13 hình thành trên biển Đông đổ bộ vào đất liền, chúng buộc phải quét qua dải bờ biển các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình trước khi tiến sâu vào Hưng Yên:
- Khoảng cách đất liền từ 50 đến 70 km tạo ra lực ma sát bề mặt rất lớn giữa luồng gió bão với cây cối, nhà cửa và các công trình ven biển.
- Mỗi 20 – 30 km di chuyển trong đất liền làm tâm bão suy yếu từ 1 đến 2 cấp gió. Do đó, khi tâm bão tiến vào không gian tỉnh Hưng Yên, sức gió cuồng phong thường chỉ còn duy trì ở mức gió giật cấp 6 – 8, không đủ sức tàn phá các công trình nhà ở kiên cố bằng bê tông cốt thép.
2.2. Vùng trũng lòng máng đón nhận mây hoàn lưu sau bão
Nếu như gió bão suy giảm nhanh chóng thì năng lượng hơi nước trong các dải mây hoàn lưu bão lại trút xuống toàn bộ đồng bằng sông Hồng:
- Địa hình Hưng Yên nghiêng rất thoải và trũng ở giữa, không có độ dốc thoát nước tự nhiên nhanh như vùng núi trung du.
- Khi các dải mây hoàn lưu bão bao phủ liên tục 2 đến 3 ngày, lượng mưa có thể đo được vượt quá 200 – 350 mm. Vũ lượng này tương đương với 20% – 25% lượng mưa trung bình năm cả tỉnh Hưng Yên dồn về chỉ trong vòng 48 đến 72 giờ, gây quá tải hoàn toàn cho hệ thống kênh mương thủy lợi nội đồng.
2.3. Hứng trọn “lũ kép” từ thượng nguồn sông Hồng đổ về
Hiểm họa lớn nhất của Hưng Yên không nằm ở lượng mưa rơi tại chỗ, mà bắt nguồn từ toàn bộ lưu vực khổng lồ của sông Hồng ở phía thượng nguồn:
- Khi bão gây mưa lớn tại các tỉnh miền núi phía Bắc (Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang), toàn bộ lượng nước lũ khổng lồ dồn vào dòng chảy sông Hồng cuồn cuộn đổ về hạ lưu.
- Hưng Yên nằm ngay cửa ngõ tiếp nhận lượng nước này trước khi đổ ra biển. Khi mực nước sông Hồng dâng cao vượt báo động III, mặt nước sông có thể cao hơn mặt ruộng nội đồng bên trong đê từ 3 đến 5 mét, biến tuyến đê sông Hồng thành một con đập ngăn nước khổng lồ bảo vệ cho toàn bộ dân cư nội đồng.

3. Điểm mặt các vùng trọng điểm dễ bị ngập úng và thiệt hại mùa mưa bão
Dựa trên đặc thù thủy văn và vị trí địa lý, Hưng Yên có 3 vùng trọng điểm luôn đặt trong trạng thái báo động khẩn cấp mỗi khi có bão đổ bộ vào miền Bắc:
3.1. Vùng bãi bồi ngoài đê sông Hồng (Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, TP Hưng Yên)
Đây là dải đất phù sa màu mỡ nằm kẹp giữa mép nước sông Hồng và thân đê chính:
- Nơi đây tập trung các làng nghề trồng hoa cây cảnh Văn Giang giá trị hàng nghìn tỷ đồng, các vùng trồng chuối tiêu hồng và trang trại chăn nuôi trâu bò thịt.
- Khi lũ thượng nguồn dâng cao trên báo động II, toàn bộ diện tích bãi bồi ngoài đê sẽ bị ngập trong biển nước phù sa đục ngầu, cuốn trôi hoa màu và đe dọa tài sản nếu người dân không chủ động di dời kịp thời.
3.2. Vùng trũng nội đồng và các khu công nghiệp (Ân Thi, Yên Mỹ, Mỹ Hào)
Nằm sâu trong nội tỉnh, nơi có mạng lưới sông Bắc Hưng Hải chảy qua:
- Địa hình trũng thấp khiến nước mưa khó tiêu thoát tự nhiên ra sông lớn khi mực nước sông ngoài đê đang ở mức cao.
- Nếu các trạm bơm đầu mối như trạm bơm Triều Dương, trạm bơm Nghi Xuyên gặp sự cố mất điện hoặc quá tải, hàng vạn hecta lúa mùa và nhiều nhà máy sản xuất tại các khu công nghiệp có nguy cơ bị ngập úng cục bộ.
3.3. Các đoạn đê xung yếu và bờ kè ven sông Luộc (Tiên Lữ, Phù Cừ)
Khu vực ngã ba ranh giới giữa Hưng Yên và Thái Bình, nơi dòng sông Luộc uốn lượn đổi dòng liên tục:
- Vào mùa lũ xiết, các đoạn kè xung yếu thường xuyên xuất hiện hiện tượng sạt trượt mái đê, đòi hỏi lực lượng hộ đê phải túc trực 24/24h sẵn sàng đá hộc và rọ thép để gia cố kịp thời.

4. Phương châm “4 tại chỗ” và công tác hộ đê bài bản tại tỉnh Hưng Yên
Để đối phó với hiểm họa mưa lũ hoàn lưu bão, tỉnh Hưng Yên luôn thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc “4 tại chỗ” (Chỉ huy tại chỗ – Lực lượng tại chỗ – Phương tiện tại chỗ – Hậu cần tại chỗ):
4.1. Hệ thống tuần tra canh gác và xử lý mạch đùn, mạch sủi ngay từ giờ đầu
- Toàn bộ 67 km đê sông Hồng và các tuyến đê cấp I, cấp II đều được phân đoạn cho các điếm canh đê phụ trách.
- Khi mực nước sông vượt báo động II, lực lượng canh đê tổ chức tuần tra liên tục ngày đêm dọc theo chân đê và mái đê phía trong để phát hiện sớm các hiện tượng rò rỉ nước, mạch đùn, mạch sủi mang theo cát sỏi.
- Khi phát hiện mạch sủi, đội xung kích lập tức sử dụng bao cát quây thành giếng sủi giữ cân bằng áp lực nước, ngăn chặn nguy cơ rỗng ruột thân đê dẫn đến vỡ đê.
4.2. Vận hành linh hoạt hệ thống trạm bơm tiêu úng nội đồng
- Trước khi bão đổ bộ từ 24 đến 48 giờ, các công ty khai thác công trình thủy lợi Hưng Yên chủ động mở các cống tiêu để hạ thấp tối đa mực nước đệm trong toàn bộ hệ thống kênh mương nội đồng.
- Sẵn sàng nguồn điện dự phòng và máy phát điện công suất lớn tại các trạm bơm tiêu đầu mối để đảm bảo việc bơm tiêu úng không bị gián đoạn ngay cả khi lưới điện quốc gia gặp sự cố do gió bão.

5. Cẩm nang an toàn sống còn cho người dân và du khách khi gặp bão lũ tại Hưng Yên
Nếu bạn đang sinh sống, làm việc hoặc có lịch trình du lịch tại Hưng Yên vào mùa mưa bão (từ tháng 7 đến tháng 9), hãy ghi nhớ các quy tắc an toàn cốt lõi sau:
- Kê cao tài sản và gia cố chuồng trại vùng ngoài đê: Người dân sinh sống hoặc canh tác tại các bãi bồi ngoài đê sông Hồng cần theo dõi chặt chẽ bản tin mực nước sông. Khi có lệnh xả lũ thủy điện Hòa Bình, Tuyên Quang, cần lập tức di dời vật nuôi, nông sản quý và máy móc lên mặt đê kiên cố trước khi nước dâng ngập đường tràn.
- Tránh đi lại qua các cống tiêu và vùng trũng ngập nước: Tuyệt đối không để trẻ em tắm sông, câu cá tại các cống tiêu nước đang vận hành mở van xả lũ do lực hút xoáy nước cực kỳ nguy hiểm.
- Lựa chọn thời điểm du lịch Hưng Yên mùa thu lý tưởng: Mùa bão ở Hưng Yên chỉ kéo dài từ tháng 7 đến tháng 9. Bạn hoàn toàn có thể lên kế hoạch du ngoạn khám phá di tích Phố Hiến và làng cổ Nôm vào mùa thu (tháng 9 – 11) với tiết trời khô ráo, nắng vàng ươm và không khí thanh bình tuyệt đối.
6. Câu hỏi thường gặp về bão lũ tại Hưng Yên (FAQ)
Hưng Yên có bao giờ bị bão cấp 11 – 12 đổ bộ trực tiếp từ biển vào không?
Rất hiếm khi. Hưng Yên là tỉnh đồng bằng nằm sâu trong lục địa, cách đường bờ biển vịnh Bắc Bộ từ 50 đến trên 70 km. Các cơn bão nhiệt đới khi đổ bộ vào bờ biển Hải Phòng, Quảng Ninh hay Thái Bình đều bị ma sát địa hình làm suy yếu nhanh chóng. Khi bão tiến vào tới không phận Hưng Yên, sức gió thường chỉ còn duy trì ở mức cấp 6 đến cấp 8, rất hiếm khi xuất hiện gió giật cấp 11 – 12 trực tiếp như vùng duyên hải ngoài cùng.
Nguy cơ vỡ đê sông Hồng tại Hưng Yên trong mùa lũ lịch sử được kiểm soát như thế nào?
Hệ thống đê tả sông Hồng qua Hưng Yên là tuyến đê quốc gia cấp đặc biệt, đã được đầu tư kiên cố hóa mặt đê bằng bê tông nhựa, đắp thêm các cơ đê phía đồng và kè đá hộ chân vững chắc. Đồng thời, các hồ thủy điện lớn ở thượng nguồn như Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang đóng vai trò cắt lũ rất hiệu quả. Trong các đợt lũ lớn vượt mức báo động III, tỉnh Hưng Yên luôn kích hoạt lực lượng tuần tra canh gác đê 24/24h theo từng km, sẵn sàng vật tư đá hộc, bao cát để xử lý ngay từ phút đầu các mạch sủi, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho thân đê.
Mưa bão lớn ở Hưng Yên có làm ảnh hưởng đến năng suất các vườn nhãn lồng không?
Mùa mưa bão tháng 7 – 8 trùng đúng vào thời điểm nhãn lồng Phố Hiến bước vào vụ thu hoạch chính. Nếu xuất hiện dông lốc mạnh kết hợp mưa lớn kéo dài, quả nhãn chín trên cây rất dễ bị gió quật rụng hàng loạt hoặc bị úng nước làm nứt vỏ, thối quả và giảm độ ngọt tự nhiên. Vì vậy, khi có dự báo bão gần, các nhà vườn tại Khoái Châu, Kim Động và TP Hưng Yên thường phải huy động tối đa nhân lực thu hoạch sớm nhãn chín để giảm thiểu thiệt hại kinh tế.