Lượng mưa trung bình năm ở Quảng Ninh dao động trong khoảng từ 1.600mm đến 2.700mm, thuộc nhóm địa phương có lượng mưa phong phú bậc nhất miền Bắc nhưng phân bổ cực kỳ không đồng đều theo cả không gian và thời gian với hơn 80% – 85% tổng lượng mưa tập trung dồn dập vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Do chịu sự chi phối chặt chẽ của chế độ gió mùa và độ ẩm không khí trung bình năm tại Quảng Ninh kết hợp với địa hình cánh cung núi Đông Triều chắn gió ẩm từ vịnh Bắc Bộ thổi vào, Quảng Ninh hình thành nên những “túi mưa” khổng lồ tại sườn nam đón gió (như Móng Cái, Tiên Yên, Cẩm Phả), đặt ra thách thức lớn đối với an toàn hồ đập thủy lợi và hệ thống thoát lũ vùng mỏ than.
📌 Tóm tắt nhanh thông tin quan trọng:
- Tổng lượng mưa bình quân năm: Đạt từ 1.600mm đến 2.700mm (Trạm Bãi Cháy đạt 2.078mm, trạm đảo Cô Tô đạt 1.950mm, trạm Móng Cái và Tiên Yên vượt 2.600mm – 2.750mm).
- Mùa mưa (Tháng 5 – 10): Chiếm 82% – 85% tổng lượng mưa cả năm; tháng 8 là tháng mưa đỉnh điểm với lượng mưa bình quân từ 420mm đến 480mm/tháng.
- Mùa khô (Tháng 11 – 4 năm sau): Chỉ chiếm 15% – 18% lượng mưa; tháng 12 và tháng 1 khô hạn nhất năm với lượng mưa chỉ từ 20mm đến 30mm/tháng.
- Theo dõi lượng mưa thời gian thực: Tra cứu lượng mưa tích lũy và radar cảnh báo sạt lở tại thống kê lượng mưa thời tiết Quảng Ninh để chủ động phương án an toàn tính mạng và tài sản.
1. Quy luật phân bổ lượng mưa theo mùa tại tỉnh Quảng Ninh
Lượng mưa tại Quảng Ninh chịu tác động đồng thời của hai hệ thống hoàn lưu khí quyển trái ngược: gió mùa mùa hạ (gió mùa Tây Nam và Đông Nam giàu ẩm từ biển) và gió mùa mùa đông (gió mùa Đông Bắc lạnh và khô từ lục địa châu Á). Sự chuyển dịch luân phiên giữa hai mùa gió này tạo nên hai mùa mưa và khô vô cùng tương phản:
Mùa mưa (Từ tháng 5 đến tháng 10): Đỉnh cao vũ lượng và hoàn lưu bão nhiệt đới
Kéo dài suốt 6 tháng, mùa mưa cung cấp nguồn nước dồi dào cho các hồ thủy lợi lớn như hồ Yên Lập, hồ Tràng Vinh, hồ Cao Vân và toàn bộ hệ thống rừng nguyên sinh đầu nguồn. Trong giai đoạn này, tổng lượng mưa bình quân thường đạt từ 1.700mm đến 2.300mm.
Tháng 8 là tháng có lượng mưa lớn nhất trong năm tại Quảng Ninh. Số liệu quan trắc tại Trạm Khí tượng Bãi Cháy ghi nhận lượng mưa trung bình tháng 8 đạt tới 452,1mm với số ngày mưa bình quân từ 16 đến 19 ngày. Các trận mưa trong mùa hạ thường xuất hiện dưới dạng dông nhiệt vào buổi chiều hoặc các đợt mưa diện rộng do dải hội tụ nhiệt đới và bão đổ bộ. Trong nhiều đợt bão lịch sử, lượng mưa trút xuống có thể lên tới 300mm – 500mm chỉ trong vòng 24 giờ, làm gia tăng nguy cơ sạt lở bãi thải mỏ than và ngập lụt khi mưa lũ cực đoan kéo dài.
Mùa khô và mưa phùn (Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau): Khô hanh đầu đông và nồm ẩm cuối xuân
Mùa khô chỉ chiếm chưa đầy 18% tổng lượng nước mưa trong năm, phân thành hai pha thời tiết rõ rệt:
- Pha khô hanh (Tháng 11 – Tháng 1): Do gió mùa Đông Bắc lục địa chiếm ưu thế, bầu trời ít mây, không khí hanh khô. Tháng 12 là tháng có lượng mưa thấp nhất năm, trạm Bãi Cháy chỉ ghi nhận bình quân 22,5mm và tháng 1 là 28,4mm. Nguy cơ cháy rừng tại các đồi thông Yên Tử, Uông Bí và tình trạng bụi than phát tán tại Cẩm Phả gia tăng mạnh.
- Pha mưa phùn nồm ẩm (Tháng 2 – Tháng 4): Khối không khí lạnh di chuyển lệch qua biển Đông tích tụ lượng hơi ẩm bão hòa thổi vào đất liền. Lượng mưa thực tế tuy không lớn (chỉ từ 35mm đến 98mm/tháng) nhưng số ngày có mưa phùn và sương mù lại lên tới 15 – 22 ngày/tháng, làm độ ẩm không khí chạm mức 90% – 95%.

2. Sự phân hóa lượng mưa theo không gian địa hình tại Quảng Ninh
Do Quảng Ninh sở hữu cấu trúc địa hình chuyển tiếp phức tạp từ biển đảo lên núi cao, lượng mưa có sự phân bố không gian vô cùng đặc sắc:
1. “Túi mưa” sườn nam đón gió Đông Bắc và sườn núi Móng Cái (2.400 – 2.750 mm/năm)
Khu vực Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và thành phố Móng Cái là nơi có lượng mưa cao nhất toàn tỉnh. Các dãy núi cao ở biên giới phía Bắc đóng vai trò như bức tường thành chặn đứng hoàn lưu gió mùa Đông Nam ẩm từ biển thổi vào, buộc các khối mây phải bốc lên cao và trút xuống những trận mưa địa hình khổng lồ. Trạm Khí tượng Móng Cái từng ghi nhận lượng mưa trung bình năm đạt trên 2.700mm, thuộc hàng những trung tâm mưa lớn nhất dải duyên hải Bắc Bộ.
2. Vùng duyên hải chân núi Hạ Long – Cẩm Phả (2.000 – 2.200 mm/năm)
Khu vực trung tâm kinh tế ven bờ vịnh nhận lượng mưa trung bình từ 2.000mm đến 2.100mm/năm. Địa hình dốc từ đỉnh núi than xuống biển khiến dòng chảy mặt tập trung rất nhanh trong các cơn mưa lớn, tạo sức ép dữ dội lên các cống tiêu thoát nước đô thị.
3. Vùng quần đảo hải đảo ngoài khơi (Cô Tô, Vân Đồn) (1.800 – 2.000 mm/năm)
Nằm ngoài khơi xa, không có rào cản địa hình núi cao nên lượng mưa tại đảo Cô Tô chủ yếu là mưa dông biển và mưa bão, dao động từ 1.850mm đến 1.950mm/năm. Nguồn nước ngọt trên đảo hoàn toàn phụ thuộc vào việc tích trữ nước mưa tại các hồ chứa nhỏ như hồ Trường Xuân.
4. Vùng đồng bằng khuất gió Tây Nam (Uông Bí, Đông Triều) (1.600 – 1.800 mm/năm)
Nằm ở phía Tây Nam của tỉnh, khu vực này bị che chắn một phần bởi dãy núi Yên Tử nên lượng mưa thấp nhất tỉnh, dao động từ 1.600mm đến 1.750mm/năm. Lượng mưa phân bổ tương đối điều hòa, phù hợp cho phát triển cây ăn quả và lúa nước.

3. Bảng số liệu lượng mưa 12 tháng tại các trạm khí tượng thủy văn Quảng Ninh
Dưới đây là bảng thống kê số liệu lượng mưa chi tiết qua chuỗi quan trắc nhiều năm tại Trạm Khí tượng Bãi Cháy, Trạm Khí tượng Cô Tô và Trạm Khí tượng Móng Cái:
| Tháng | Lượng mưa Bãi Cháy (mm) | Lượng mưa Cô Tô (mm) | Lượng mưa Móng Cái (mm) | Số ngày mưa TB (ngày) | Tỷ lệ cả năm (%) | Hình thái mưa đặc trưng |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng 1 | 28,4 | 26,2 | 35,1 | 8,2 | 1,4% | Mưa nhỏ ngắt quãng trong các đợt rét khô. |
| Tháng 2 | 34,6 | 31,8 | 46,2 | 13,5 | 1,7% | Mưa phùn rải rác kèm sương mù ven biển. |
| Tháng 3 | 52,8 | 48,5 | 68,4 | 16,1 | 2,5% | Mưa phùn xuân nồm ẩm, độ ẩm chạm mốc 95%. |
| Tháng 4 | 98,5 | 92,1 | 135,6 | 12,4 | 4,7% | Giao mùa, bắt đầu xuất hiện những cơn mưa rào dông. |
| Tháng 5 | 215,2 | 201,4 | 285,3 | 14,2 | 10,3% | Mưa rào dông nhiệt mùa hè kèm sấm sét lớn. |
| Tháng 6 | 312,4 | 295,8 | 412,5 | 16,8 | 15,0% | Mưa diện rộng do dải hội tụ nhiệt đới và áp thấp. |
| Tháng 7 | 386,5 | 362,1 | 521,4 | 17,5 | 18,6% | Mưa bão cao điểm, mưa dồn dập trong thời gian ngắn. |
| Tháng 8 (Cao nhất) | 452,1 | 425,6 | 586,2 | 18,6 | 21,8% | Đỉnh mưa năm, mưa bão kết hợp hoàn lưu xoáy thuận. |
| Tháng 9 | 278,6 | 261,3 | 345,8 | 14,8 | 13,4% | Mưa bão cuối mùa xen kẽ các đợt không khí lạnh yếu. |
| Tháng 10 | 142,3 | 134,8 | 172,4 | 10,2 | 6,8% | Mưa giảm nhanh, xuất hiện các đợt se lạnh mùa thu. |
| Tháng 11 | 54,6 | 49,5 | 68,1 | 6,8 | 2,6% | Khô hanh, gió bấc đầu mùa mang lại tiết trời hanh ráo. |
| Tháng 12 (Ít nhất) | 22,5 | 19,6 | 28,2 | 5,4 | 1,1% | Tháng khô hạn nhất năm, tiết trời hanh hao rét buốt. |
| Tổng cả năm | 2.078,4 | 1.948,7 | 2.715,0 | 149,8 | 100% | Mưa dồn dập vào mùa hè, nguy cơ lũ quét và sạt lở cao. |
4. Đợt mưa ngập lụt lịch sử tháng 7/2015 và các bài học thoát nước mỏ than
Trong lịch sử khí tượng Việt Nam, trận mưa ngập lụt lịch sử diễn ra từ ngày 25/7 đến 03/8/2015 tại Quảng Ninh được ghi nhận là một thảm họa thiên tai cực đoan chưa từng có:
- Lượng mưa phá vỡ mọi kỷ lục: Chỉ trong vòng 5 ngày, tổng lượng mưa trút xuống thành phố Hạ Long và Cẩm Phả đo được vượt mốc 1.500mm, cá biệt tại trạm Mông Dương và Cửa Ông vượt trên 1.600mm (tương đương lượng mưa của cả một năm dồn lại trong vài ngày).
- Thiệt hại kinh hoàng đối với ngành than: Hàng trăm nghìn mét khối bùn đá từ các bãi thải mỏ Đông Cao Sơn, Đèo Nai đổ ập xuống các khu dân cư Bản Sen, Mông Dương. Các moong than sâu dưới mực nước biển hàng trăm mét bị ngập chìm hoàn toàn trong biển nước, làm tê liệt hoạt động khai thác của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) suốt nhiều tháng.
- Bài học quy hoạch đới an toàn chân bãi thải: Sau trận đại hồng thủy này, Quảng Ninh đã triển khai xây dựng hệ thống đê bao chắn bùn đá chân bãi thải mỏ than, mở rộng khẩu độ các tuyến kênh thoát lũ chính (kênh Nam Ga, mương Lộ Phong) và di dời hàng nghìn hộ dân ra khỏi vùng có nguy cơ sạt lở cao.

5. Tác động của chế độ mưa đến thủy lợi, nông nghiệp và nguồn nước sinh hoạt
Lượng mưa từ 1.600 – 2.700 mm/năm là nguồn tài nguyên nước vô giá nuôi sống toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ninh:
Hệ thống hồ đập dự trữ nước ngọt sinh hoạt và công nghiệp
Hồ Yên Lập (thị xã Quảng Yên) với dung tích trên 118 triệu m³ là hồ thủy lợi lớn nhất tỉnh, cung cấp nguồn nước sạch cốt lõi cho thành phố Hạ Long, Uông Bí và thị xã Quảng Yên. Lượng mưa mùa hè nạp đầy các hồ chứa Cao Vân, Tràng Vinh, Đầm Hà Động, đảm bảo nguồn nước thô ổn định phục vụ sản xuất nhiệt điện, chế biến than và chuỗi khách sạn nghỉ dưỡng cao cấp.
Sản xuất nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Lượng mưa mùa hạ rửa mặn hiệu quả cho các cánh đồng lúa trũng huyện Đầm Hà, Hải Hà và kích thích các cánh rừng hồi, quế, ba kích Bình Liêu đâm chồi xanh tốt. Tuy nhiên, nếu mưa quá dồn dập sẽ làm giảm đột ngột độ mặn tại các vụng nuôi tôm thẻ chân trắng và nghêu ngao ven vịnh Bái Tử Long, đòi hỏi người nuôi trồng phải có phương án thoát nước ngọt tầng mặt kịp thời.

6. Giải pháp chủ động thích ứng và ứng phó mưa lũ cực đoan tại Quảng Ninh
Để sống chung an toàn và giảm nhẹ rủi ro thiên tai do mưa lớn gây ra, người dân và doanh nghiệp tại Quảng Ninh cần tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn thực tiễn sau:
- Chủ động phòng chống sạt lở bờ dốc và bãi thải: Các hộ dân sinh sống ven chân núi đá vôi hoặc gần các bãi thải mỏ than cần chú ý các dấu hiệu bất thường như nứt tường nhà, cây cối nghiêng ngả, nước suối đổi màu đục ngầu; khẩn trương sơ tán người già và trẻ nhỏ đến nơi an toàn khi có cảnh báo mưa trên 100mm/24h.
- Khơi thông hệ thống thoát nước gia đình và khu công nghiệp: Thường xuyên nạo vét máng xối, không vứt rác bịt kín miệng hố ga; các doanh nghiệp kho bãi cảng biển cần kiểm tra máy bơm chìm và van ngăn triều tự động trước khi bước vào cao điểm mùa mưa tháng 7 – 8.
- Cảnh giác khi tham gia giao thông đèo dốc mùa mưa: Hạn chế di chuyển qua các cung đường đèo hiểm trở như đèo Gió, đèo Cao Sơn (Bình Liêu) hay đường xuyên đảo Cô Tô trong các đợt mưa to gió giật vì nguy cơ đất đá sạt trượt và ngập tràn ngầm rất cao.
Câu hỏi thường gặp về lượng mưa tại Quảng Ninh
Tại sao lượng mưa ở Móng Cái và Tiên Yên lại cao hơn nhiều so với Uông Bí?
Móng Cái và Tiên Yên nằm ở sườn nam đón gió mùa mùa hạ trực tiếp từ vịnh Bắc Bộ thổi vào. Khối mây ẩm gặp dãy núi cao cánh cung biên giới bị đẩy lên cao đột ngột, ngưng tụ hơi nước và trút xuống những trận mưa địa hình khổng lồ. Trong khi đó, Uông Bí và Đông Triều nằm ở vùng khuất gió phía Tây Nam nên lượng mưa ít hơn rõ rệt.
Mùa mưa bão ở Quảng Ninh thường diễn ra khốc liệt nhất vào tháng nào?
Tháng 7 và tháng 8 là hai tháng có vũ lượng mưa cao nhất và tần suất bão đổ bộ dày đặc nhất tại Quảng Ninh, với lượng mưa trung bình mỗi tháng vượt mốc 380mm – 450mm, tiềm ẩn nguy cơ ngập úng và sạt trượt sườn núi cao nhất trong năm.
Xem dự báo lượng mưa và bản đồ nguy cơ ngập úng Quảng Ninh ở đâu chuẩn nhất?
Bạn có thể tra cứu nhanh radar lượng mưa tích lũy từng giờ, cảnh báo dông sét và mực nước triều cường tại trang thông tin dự báo mùa mưa bão Quảng Ninh để chủ động phương án sinh hoạt và sản xuất an toàn.