Xâm nhập mặn đang làm giảm năng suất và tăng chi phí sản xuất các nhóm nông sản chủ lực ở ĐBSCL, đe dọa trực tiếp đến nguồn cung xuất khẩu. Để thích ứng, ngành đang chuyển dịch từ độc canh sang mô hình luân canh mặn-ngọt, đồng thời vận hành đồng bộ hệ thống thủy lợi và cảnh báo sớm để điều chỉnh thời vụ.
Thực trạng xâm nhập mặn và tác động trực tiếp đến nông sản

Xâm nhập mặn là hiện tượng nước biển chứa độ mặn cao di chuyển ngược dòng vào nội đồng, gay gắt nhất từ tháng 11 đến tháng 5. Tại ĐBSCL, địa hình thấp trũng và việc khai thác cát vượt mức khiến lòng sông bị bào xói, cộng với lưu lượng thượng nguồn giảm, tạo điều kiện cho mặn xâm lấn sâu. Đợt 2019-2020, ranh mặn 4‰ đã lấn sâu 70-76km tại Tiền Giang và Bến Tre.
Mặn cao điểm (>20g/l) làm cháy lá, giảm khả năng hút dinh dưỡng của cây trồng. Vụ đông xuân 2019-2020, Trà Vinh mất 14.300ha lúa, Tiền Giang 4.500ha, Sóc Trăng 4.100ha. Cây ăn trái như thanh long, chôm chôm, sầu riêng cũng thiếu nước ngọt tưới nghiêm trọng tại các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành (Tiền Giang) và Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày (Bến Tre).
Ảnh hưởng cụ thể đến chuỗi xuất khẩu

Thiệt hại kinh tế lặp lại theo chu kỳ: năm 2016 làm 160.000ha nhiễm mặn, thiệt hại hơn 5.500 tỷ đồng; năm 2020 hơn 43.000ha lúa mất trắng, 80.000 hộ thiếu nước sinh hoạt, chính phủ chi 530 tỷ hỗ trợ. Tăng trưởng ngành nông-lâm-thủy sản các tỉnh ven biển nhiều năm ghi nhận âm, như Trà Vinh -9,9% (2016), Bến Tre -4,2% (2020).
Đối với xuất khẩu, mặn tác động gián tiếp qua việc tăng chi phí sản xuất và đứt gãy nguồn cung địa phương. Doanh nghiệp phải tìm nguồn thay thế hoặc nhập khẩu thêm, làm giảm lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, vùng trọng điểm lúa thượng nguồn (Đồng Tháp, An Giang, Long An) ít chịu mặn, giúp sản lượng quốc gia vẫn duy trì xuất khẩu 6-7 triệu tấn gạo/năm, bù đắp phần nào cho vùng ven biển mất trắng.
Giải pháp thích ứng và vận hành công trình

Ứng phó đòi hỏi đồng bộ giữa công trình và phi công trình. Về công trình, ưu tiên sửa chữa, xây mới hệ thống thủy lợi. Dự án Cống âu Rạch Mọp (Sóc Trăng) đầu tư 900 tỷ ngăn mặn, bảo vệ 19.000ha sản xuất.
Giai đoạn 1 công trình Cái Lớn – Cái Bé kiểm soát mặn, ổn định sản xuất cho 380.000ha đất nông nghiệp và thủy sản thuộc 4 tỉnh. Ngành chức năng đẩy mạnh nạo vét kênh rạch trữ nước ngọt, mở rộng tuyến ống cấp nước và bổ sung giếng khoan.
Về phi công trình, Bộ NN&PTNT chỉ đạo chủ động xuống giống sớm, tránh trùng đỉnh điểm mặn. Nghị quyết 120 nhấn mạnh thuận thiên, giảm vụ lúa thứ ba ven biển, chuyển sang mô hình đa canh ít nước. Mô hình lúa – tôm trở thành giải pháp thích ứng thiết thực: tận dụng nước ngọt mùa mưa cấy lúa, chuyển sang nuôi tôm khi mặn xâm nhập.
Tại An Minh (Kiên Giang), hơn 39.000ha áp dụng luân canh tôm – lúa. Nhờ cống ven biển điều tiết, độ mặn sông được khống chế dưới 30‰, giúp tôm phát triển ổn định, thay vì chết hàng loạt như giai đoạn 2015-2016 (mặn >40‰).
Khuyến nghị canh tác và dự báo dài hạn

Biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng 3mm/năm sẽ khiến hạn mặn phức tạp hơn. Đê bao khép kín khiến đồng bằng mất không gian chứa nước lũ tự nhiên, giảm khả năng tích trữ nước ngọt mùa khô. Mục tiêu 2030 đặt ra cần bảo vệ 530.000ha vùng ngọt hóa và 600.000ha ven biển.
Sau 2030, sẽ nghiên cứu xây cống cửa sông lớn (Vàm Cỏ, Cổ Chiên, Sông Hậu, Hàm Luông) và nạo vét trục kênh chuyển nước từ vùng giữa xuống ven biển. Người sản xuất cần chủ động theo dõi cảnh báo độ mặn, điều chỉnh lịch thời vụ xuống giống sớm hoặc dời sang vùng nước ngọt ổn định.
Đầu tư bể trữ nước tại vườn, áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm và chuyển đổi sang giống cây/vật nuôi chịu mặn là chìa khóa duy trì giá trị xuất khẩu dài hạn. Phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, viện nghiên cứu và nông dân trong vận hành thủy lợi sẽ giảm thiểu rủi ro khi sản lượng nội địa biến động.