Dòng chảy kiệt mùa khô gây thiếu nước tưới, xâm nhập mặn và mất cân bằng sinh thái, đe dọa sinh kế nông dân và hệ sinh thái ven sông. Khi lưu lượng nước về hạ lưu suy giảm nghiêm trọng, các hệ thống thủy lợi ven biển và vùng trũng thấp đối mặt với nguy cơ cạn kiệt nguồn cung. Người dân nông nghiệp phải đối diện với tình trạng thiếu nước tưới tiêu, trong khi áp lực mặn xâm nhập sâu vào nội đồng ngày càng gia tăng.

Bên cạnh đó, sự suy giảm dòng chảy tự nhiên còn làm đứt gãy quá trình trao đổi oxy, vận chuyển phù sa và duy trì môi trường sống cho thủy sinh vật. Tình trạng này đòi hỏi các địa phương phải chủ động điều tiết nguồn nước, đồng thời triển khai đồng bộ các biện pháp thích ứng nhằm giảm thiểu thiệt hại về kinh tế và bảo vệ cân bằng sinh thái vùng hạ lưu.

Tình trạng thiếu nước và hệ lụy tại các địa phương trọng điểm

Người dân ở Bình Tân và Long H, hai khu vực trọng điểm nông nghiệp, đang đối mặt với nỗi lo thiếu nước tưới trong mùa kiệt khi lưu lượng nước trên các kênh mương chính giảm mạnh, đe dọa làm héo úa lúa và cây ăn trái. Trước tình hình này, UBND tỉnh và Tỉnh ủy yêu cầu rà soát lại kế hoạch phân phối nước, ưu tiên cấp nước cho vùng sản xuất lương thực quan trọng.

Cách phân bổ nguồn nước thiếu linh hoạt tác động tiêu cực đến năng suất cây trồng và gây áp lực lớn lên hệ thống thủy lợi. Nhiều nơi buộc phải vận hành công trình trữ nước sớm hơn dự kiến và điều chỉnh lịch gieo sạ nhằm tránh xung đột tài nguyên. Kinh nghiệm vận hành gần đây cho thấy, việc thiếu kế hoạch dự phòng và phân tầng nguồn nước rõ ràng sẽ khiến tình trạng khan hiếm kéo dài sang cuối mùa khô, gây thiệt hại nghiêm trọng cho chuỗi cung ứng nông sản địa phương.

Cơ chế tác động của việc mất dòng chảy tự nhiên đến hệ sinh thái

Theo phân tích của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Thị Hồng Hải – chuyên gia Công nghệ sinh học, suối không đơn thuần là nơi nước chảy qua mà là một hệ sinh thái động với sự gắn kết mật thiết giữa rừng đầu nguồn, lòng suối và vùng hạ lưu. Dòng chảy tự nhiên giúp duy trì quá trình trao đổi oxy, vận chuyển phù sa cùng chất dinh dưỡng, qua đó bảo vệ môi trường sống ổn định cho cá, côn trùng thủy sinh, động vật đáy và hệ thực vật ven bờ.

Khi dòng chảy bị ngăn cản hoặc suy kiệt, chế độ thủy văn bị đảo lộn: vận tốc dòng chảy giảm khiến trầm tích và vật chất hữu cơ tích tụ, nhiệt độ nước trở nên bất thường và nồng độ oxy hòa tan có thể suy giảm tại chỗ. Những biến động này tác động trực tiếp đến các loài bản địa vốn quen thuộc với môi trường nước chảy tự nhiên. Sự chênh lệch lưu lượng giữa mùa mưa và mùa cạn làm tăng nguy cơ xói lở hoặc thay đổi hình thái lòng suối ở nhiều khu vực hạ lưu.

Sự xáo trộn này còn ảnh hưởng đến thảm thực vật ven bờ và khả năng tự phục hồi của toàn bộ hệ sinh thái. “Chính vẻ đẹp nguyên sơ, dòng nước tự nhiên và hệ sinh thái rừng suối mới là giá trị cốt lõi tạo nên sức hấp dẫn bền vững của du lịch sinh thái.

Nếu những yếu tố này bị suy giảm, tính bền vững của hoạt động du lịch về lâu dài cũng sẽ bị ảnh hưởng,” bà Hải nhấn mạnh. Mất cân bằng này lan tỏa xuống hạ lưu, làm suy yếu khả năng tự điều tiết của toàn bộ lưu vực sông.

Hậu quả trực tiếp đối với sản xuất nông nghiệp và sinh kế

Tình trạng khan hiếm nguồn nước do thay đổi hệ sinh thái đã tác động nghiêm trọng đến hơn 50ha đất canh tác tại vùng hạ lưu, gây khó khăn lớn cho sản xuất nông nghiệp và sinh kế người dân. Điển hình như trường hợp ông Trần Quốc Trung ở xã Phú Lộc, thành phố Huế, với 5 sào ruộng (tương đương 2.500m2, tính theo quy đổi 1 sào = 500m2), nơi kinh tế gia đình dựa chủ yếu vào vụ lúa.

Những năm gần đây, vào mùa khô, các thửa ruộng của gia đình ông luôn trong tình trạng thiếu nước tưới tiêu trầm trọng. Điều này đẩy gia đình ông Trung vào nguy cơ phải bỏ hoang đất và làm giảm năng suất cây trồng, kéo theo sự gia tăng chi phí sản xuất do phải tự mua nước hoặc sử dụng bơm diesel.

Khi nguồn nước tự nhiên không đủ đáp ứng, nhiều hộ nông dân buộc phải thay đổi cơ cấu cây trồng hoặc tạm ngưng sản xuất, dẫn đến đứt gãy sinh kế. Áp lực tài chính càng trở nên nặng nề khi giá nông sản bấp bênh, khiến thu nhập của nhiều gia đình bị suy giảm nghiêm trọng.

Vấn đề bảo vệ nguồn nước tưới tiêu không còn đơn thuần là thách thức kỹ thuật, mà là nhân tố quan trọng đảm bảo an ninh lương thực và ổn định đời sống nông thôn. Trước thực tế này, nhiều địa phương đã triển khai các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật canh tác tiết kiệm nước và khuyến khích mô hình luân canh cây ngắn ngày nhằm giảm thiểu áp lực lên nguồn cung trong những giai đoạn hạn hán khắc nghiệt.

Nguy cơ xâm nhập mặn và biến động nguồn nước trong mùa kiệt

Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, dòng chảy đổ về Châu thổ sông Mê Kông chịu tác động mạnh từ hoạt động điều tiết của các nhà máy thủy điện, khiến lưu lượng tại đầu nguồn ĐBSCL biến động theo chu kỳ triều. Tại trạm Kratie, mực nước tuần qua duy trì ở mức 7,20 m, và tính đến 7 giờ ngày 10/2/2022, con số này là 7,24 m. So với trung bình nhiều năm cũng như các mùa khô 2019-2020 và 2020-2021, mực nước hiện cao hơn lần lượt 0,48 m, 0,55 m và 0,34 m.

Tuy nhiên, nó vẫn thấp hơn so với cùng kỳ các năm 2015-2016 và 2017-2018 là 0,58 m và 0,74 m. Dung tích nước hiện hữu tại Biển Hồ ước tính khoảng 4,53 tỷ m3, mức này cao hơn 0,84, 2,22 và 2,24 tỷ m3 so với các năm 2020-2021, 2019-2020 và 2015-2016, nhưng lại thấp hơn 0,78 và 1,17 tỷ m3 so với trung bình nhiều năm và mùa khô 2017-2018. Tại các cửa sông Tân Châu và Châu Đốc, mực nước ghi nhận lần lượt là 1,32 m và 1,46 m, với dự báo xu hướng tăng trở lại trong thời gian tới.

Việc các hồ chứa thượng nguồn sông Mê Kông tiếp tục xả nước hạn chế, cộng với lưu lượng dòng chảy bình quân ở mức cao hơn trung bình trong các tháng 2 và 3, nhưng vẫn phụ thuộc lớn vào vận hành thủy điện, có nguy cơ dẫn đến các thao tác bất thường. Điều này kéo theo nguy cơ xâm nhập mặn sớm trong mùa kiệt.

Khu vực thượng nguồn ĐBSCL, bao gồm An Giang, Đồng Tháp, thượng nguồn Long An, Kiên Giang và TP Cần Thơ, hiện có nguồn nước tương đối thuận lợi hơn các vùng khác. Tuy nhiên, dự báo mực nước bình quân tháng 2/2022 tại đây sẽ thấp hơn trung bình nhiều năm từ 20 đến 30 cm.

Tại vùng giữa ĐBSCL, bao gồm TP Cần Thơ, Tiền Giang, Long An, Kiên Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và các vùng kiểm soát mặn ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, độ mặn nồng độ 4g/l trong tháng 2 có thể xâm nhập sâu 40-50 km, sang tháng 3 mức này có thể đẩy xa 50-65 km, gây khó khăn cho việc lấy nước của các cống.

Vùng ven biển, gồm Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang, đối mặt với rủi ro ảnh hưởng kép lên sản xuất mặn và ngọt. Tại những khu vực chưa có hệ thống kiểm soát mặn triệt để, tình trạng hạn hán và thiếu nước bất thường có thể xảy ra, đòi hỏi công tác giám sát phải được tăng cường và cập nhật thường xuyên các bản tin dự báo.

Giải pháp quản lý và thích ứng với tình trạng hạn hán

Công trình đập ngăn mặn trữ ngọt Ông Năm tại ấp Phú Thạnh 2, xã Đồng Phú, huyện Long Hồ đang được gia cố để bảo vệ và phục vụ tưới tiêu cho hơn 80ha vườn cây ăn trái khu vực. Tại vùng ven biển ĐBSCL, tình trạng mặn xuất hiện sớm và kéo dài có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước cũng như sản xuất trên các hệ thống thủy lợi như Gò Công, Bắc Bến Tre, vùng ven biển Trà Vinh và hệ thống Long Phú – Tiếp Nhật, đòi hỏi phải chuẩn bị sẵn các phương án đảm bảo nguồn nước.

Đối với vùng giữa ĐBSCL, nguồn nước cơ bản vẫn được duy trì nhờ vận hành hợp lý các công trình kiểm soát mặn và tích nước; tuy nhiên, việc lấy ngọt hoặc tưới cho cây trồng cần theo dõi chặt chẽ độ mặn, đặc biệt là đối với cây ăn quả.

Dù dự báo dòng chảy về đồng bằng trong mùa kiệt cho thấy tiềm năng nguồn nước thuận lợi hơn nhờ ảnh hưởng của mưa cuối mùa, nhưng mức độ xâm nhập mặn được nhận định sẽ ít thay đổi so với các dự báo trước do tác động của biến đổi lòng dẫn cùng việc vận hành tích nước bất thường.

Để chủ động phòng ngừa các rủi ro do hạn mặn, các địa phương cần xây dựng kế hoạch sản xuất, bố trí mùa vụ khoa học, vận hành hệ thống công trình hợp lý và chuẩn bị các giải pháp ứng phó ngay từ đầu mùa khô, tăng cường giám sát mặn, cập nhật thường xuyên các bản tin dự báo để điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với diễn biến nguồn nước.