Tổng cục Khí tượng Thủy văn đảm nhận vai trò chủ đạo trong việc thu thập số liệu, phân tích diễn biến Khí và Thủy, cũng như đưa ra các dự báo chính xác cho toàn lãnh thổ Việt. Cơ quan này hỗ trợ trực tiếp cho hơn 11 trong số 17 mục tiêu phát triển bền vững, góp phần quan trọng vào công tác điều hành kinh tế, quốc phòng và an ninh.
Với bề dày lịch sử hơn 130 năm, đơn vị không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức gồm 17 đơn vị thành viên để thích nghi với những thay đổi của môi trường và nhu cầu thực tiễn.
Lịch sử hình thành ngành khí tượng thủy văn từ 1891

Ngành khí tượng thủy văn tại Việt Nam bắt đầu hoạt động chính thức từ năm 1891, khởi đầu bằng việc thành lập Trạm Khí tượng đầu tiên đặt tại Tòa Công sứ Nam Định. Tới năm 1902, Toàn quyền Đông Dương đã ký nghị định thiết lập Đài Quan sát Từ trường và Khí tượng Trung ương tại khu vực Phù Liễn, Hải Phòng, phục vụ chủ yếu cho mục đích nghiên cứu và khai thác thuộc địa.
Sau khi giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 41 ngày 3 tháng 10 năm 1945, đưa Sở Thiên văn và Đài Thiên văn Phủ Liễn về trực thuộc Bộ Công chính và Giao thông, đánh dấu bước chuyển quan trọng khi hệ thống khí tượng thủy văn chính thức nằm dưới sự quản lý của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Qua nhiều thập kỷ, cơ quan này trải qua nhiều lần điều chỉnh tổ chức, từ Nha Khí tượng Thủy văn tách thành Nha Khí tượng và chuyển ngành thủy văn sang Bộ Thủy lợi. Bước ngoặt lớn nhất xảy ra vào ngày 14 tháng 10 năm 1975, khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra nghị quyết thành lập Tổng cục Khí tượng Thủy văn trên cơ sở hợp nhất Nha Khí tượng và Cục Thủy văn. Năm 1976, Nghị định số 215/CP chính thức quy định bộ máy gồm 6 vụ, 38 đài tỉnh và 12 đơn vị sự nghiệp.
Đến năm 2002, đơn vị này được sáp nhập vào Bộ Tài nguyên và Môi trường. Năm 2017, Tổng cục được tái lập theo Nghị định 36/2017/NĐ-CP. Gần đây nhất, ngày 1 tháng 3 năm 2025, trong khuôn khổ sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, Tổng cục được chuyển nguyên trạng thành Cục Khí tượng Thủy văn trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực này.
Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ hiện tại

Đứng đầu đơn vị là Tổng cục trưởng, người chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng và pháp luật về mọi hoạt động. Là cơ quan tham mưu trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Khí tượng Thủy văn thực hiện chức năng quản lý nhà nước cũng như tổ chức thực thi pháp luật về khí tượng thủy văn trên phạm vi cả nước. Đơn vị này chịu trách nhiệm quản lý, hướng dẫn hoạt động quan trắc, điều tra, khảo sát đối với các công trình trọng điểm quốc gia.
Cơ cấu tổ chức hiện hành được chia thành hai khối chính. Khối tham mưu quản lý nhà nước bao gồm Văn phòng Cục, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Kế hoạch – Tài chính, Vụ Khoa học, Công nghệ và Hợp tác quốc tế, cùng các vụ chuyên ngành như Quản lý dự báo và Quản lý mạng lưới. Khối đơn vị sự nghiệp công lập đảm nhận nhiệm vụ nghiệp vụ trọng yếu, gồm Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, Trung tâm Thông tin và Dữ liệu, Trung tâm Kỹ thuật quan trắc và Trung tâm Điều tra khảo sát, Công nghệ.
Bên cạnh hệ thống trực thuộc trung ương, Cục quản lý 3 Đài khí tượng cấp vùng (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ) và 34 Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh. Mạng lưới này vận hành gần 500 trạm quan trắc, bao gồm trạm khí tượng, hải văn, môi trường và radar thời tiết.
Vai trò then chốt trong phòng chống thiên tai và phát triển

Thông tin khí tượng thủy văn giữ vị trí then chốt trong hoạt động phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai. Dữ liệu quan trắc quốc gia tác động trực tiếp đến 11 trong số 17 mục tiêu phát triển bền vững, là đầu vào cần thiết cho hầu hết các ngành kinh tế. Mỗi năm, hệ thống dự báo trung ương và địa phương cung cấp hơn 58.600 bản tin cảnh báo, phản ánh hiệu quả thực tiễn trong việc giảm thiểu rủi ro.
Theo Ban Chỉ đạo quốc gia về PCTT năm 2021, công tác dự báo giúp giảm 54% thiệt hại về người và 78% thiệt hại về kinh tế so với mức trung bình của 10 năm trước. Ngành khí tượng học ứng dụng dữ liệu vệ tinh, radar và mô hình số trị để dự báo chính xác quỹ đạo bão, cường độ áp thấp nhiệt đới và diễn biến lũ quét.
Sản phẩm dự báo không dừng lại ở nhiệt độ hay lượng mưa trung bình mà còn cung cấp số giờ nắng, độ ẩm chi tiết theo từng mùa vụ, hỗ trợ nông nghiệp dự báo sâu bệnh và năng suất cây trồng. Đối với thủy điện, bản tin nguồn nước giúp điều hành quy trình vận hành hồ chứa hiệu quả. Năng lượng tái tạo cũng được hưởng lợi từ mô phỏng trường gió, trường sóng ngoài khơi với độ phân giải khoảng 10 km.
Hệ thống quan trắc và dịch vụ công khí tượng thủy văn

Hoạt động quan trắc và cung cấp dịch vụ công được duy trì trên nền tảng hạ tầng số hóa đồng bộ. Trạm Rada Thời tiết Phù Liễn ở Hải Phòng trong việc giám sát các hiện tượng thời tiết nguy hiểm tại khu vực Đông Nam Á ghi nhận nhiều mốc lịch sử ngành.
Chiến lược phát triển hướng đến năm 2030 với mục tiêu đưa tỷ lệ tự động hóa lên mức 80–100% cho hệ thống gồm 80–100 trạm khí tượng bề mặt, 100 trạm đo gió ven biển và 2.500–3.000 trạm đo mưa. Sức mạnh xử lý dữ liệu phục vụ công tác đồng hóa số liệu và mô hình dự báo khu vực độ phân giải cao được hỗ trợ bởi siêu máy tính Cray XC40 có khả năng tính toán khoảng 80TFlops.
Bên cạnh việc ban hành bản tin, Cục Khí tượng Thủy văn thực hiện thẩm định nội dung khí tượng thủy văn trong quy hoạch và thiết kế các công trình trọng điểm quốc gia. Đơn vị này cũng xây dựng bộ chuẩn khí hậu quốc gia, triển khai Khung dịch vụ khí hậu và phân vùng rủi ro thiên tai. Mục tiêu dài hạn là nâng độ tin cậy dự báo thường xuyên lên 85–90%, dự báo bão trước 4–5 ngày và cảnh báo lũ quét chi tiết 6–24 giờ trước khi xảy ra.