Khí hậu Tuyên Quang mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh rõ nét, chịu sự chi phối và phân hóa sâu sắc của cấu trúc địa hình núi cao hiểm trở vùng Đông Bắc. Nằm ở tọa độ 21°30′ đến 22°40′ vĩ độ Bắc và 104°53′ đến 105°40′ kinh độ Đông, Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc sở hữu cảnh quan địa hình bán sơn địa độc đáo: phía Bắc gồm các huyện vùng cao Na Hang, Lâm Bình với các dãy núi đá vôi karst sừng sững cao trên 1.000 – 1.500 m (tiêu biểu như đỉnh Cham Chu 1.587 m) và rừng nguyên sinh bạt ngàn; phía Nam là dải đồi bát úp lượn sóng và các thung lũng bồi tụ phù sa trù phú ven sông Lô, sông Gâm thuộc thành phố Tuyên Quang, huyện Yên Sơn và Sơn Dương. Nền nhiệt độ trung bình năm toàn tỉnh dao động từ 22,6°C đến 23,5°C, tổng lượng mưa trung bình năm đạt 1.600 – 2.050 mm (khu vực sườn đón gió đạt trên 2.200 mm) và độ ẩm trung bình 82% – 85%, tạo nên hệ sinh thái rừng nhiệt đới trù phú cùng công trình thủy điện Tuyên Quang quy mô bậc nhất điều hòa nguồn nước và vi khí hậu toàn vùng.
- Nền nhiệt độ hàng năm: Nhiệt độ trung bình toàn tỉnh đạt từ 22,6°C đến 23,5°C; phân hóa theo độ cao: vùng núi phía Bắc (Na Hang, Lâm Bình) thấp hơn vùng đồi phía Nam từ 1,2°C đến 2,0°C.
- Bốn mùa phân hóa rành mạch:
- Mùa xuân (Tháng 2 – Tháng 4): Thời tiết ấm dần lên, xuất hiện mưa phùn rải rác và hiện tượng nồm ẩm đặc trưng, độ ẩm không khí thường xuyên duy trì trên 85% – 90%.
- Mùa hè (Tháng 5 – Tháng 8): Nắng nóng gay gắt, mưa rào và giông lốc tập trung, nhiệt độ ban trưa có ngày chạm ngưỡng 38°C – 39,5°C tại vùng thung lũng thấp.
- Mùa thu (Tháng 9 – Tháng 11): Mùa đẹp nhất năm với tiết trời mát mẻ hanh vàng, bầu trời trong xanh, ít mưa, là thời điểm lý tưởng diễn ra Lễ hội Thành Tuyên và du thuyền lòng hồ Na Hang.
- Mùa đông (Tháng 12 – Tháng 1 năm sau): Rét sâu và buốt giá, chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc; vùng núi cao Na Hang, Lâm Bình xuất hiện sương muối và băng giá cục bộ.
- Chế độ mưa & thủy văn phong phú: Lượng mưa trung bình năm đạt 1.600 – 2.050 mm; tập trung tới 80% – 85% trong mùa hè (tháng 5 – 10). Hệ thống sông Lô, sông Gâm và hồ thủy điện Tuyên Quang (dung tích 2,24 tỷ m³, diện tích hơn 8.000 ha) giữ vai trò cắt lũ và điều hòa tiểu khí hậu.
- Vi khí hậu lòng hồ Na Hang – Lâm Bình: Mặt nước rộng lớn điều hòa nhiệt ẩm, làm giảm nhiệt độ mùa hè từ 1°C – 2°C và sương mù bồng bềnh phủ quanh các ngọn núi đá vôi kỳ vĩ.
- Theo dõi diễn biến thời tiết: Tra cứu nhiệt độ từng giờ, lượng mưa radar và cảnh báo thời tiết cực đoan tại chuyên trang dự báo thời tiết Tuyên Quang hôm nay trên website thoitiethomnay.org.
Tuyên Quang là vùng đất giàu truyền thống lịch sử cách mạng, cái nôi của “Thủ đô Kháng chiến” Tân Trào, đồng thời sở hữu cảnh quan thiên nhiên tráng lệ được mệnh danh là “vịnh Hạ Long cạn giữa đại ngàn”. Về mặt địa giới hành chính, tỉnh giáp tỉnh Hà Giang ở phía Bắc, giáp tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên ở phía Đông, giáp tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ ở phía Nam, giáp tỉnh Yên Bái ở phía Tây. Sự giao thoa giữa các hệ núi cánh cung Đông Bắc, dãy núi đá vôi Na Hang hiểm trở và các thung lũng sông lớn đã tạo nên một bức tranh vi khí hậu đa dạng, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống cư dân, hệ sinh thái nông lâm nghiệp và ngành du lịch sinh thái vùng cao.

1. Vị trí địa lý và các nhân tố hình thành đặc trưng khí hậu Tuyên Quang
Khí hậu Tuyên Quang chịu sự chi phối của ba nhóm nhân tố tự nhiên cốt lõi: vĩ độ nội chí tuyến, hệ thống hoàn lưu gió mùa Đông Á và sự phân hóa độ cao địa hình:
1.1. Chế độ bức xạ mặt trời và nền tảng nhiệt
Nằm trong vành đai nội chí tuyến bán cầu Bắc, Tuyên Quang nhận được lượng bức xạ mặt trời dồi dào quanh năm. Tổng lượng bức xạ hàng năm đạt từ 110 đến 122 kcal/cm²/năm. Cán cân bức xạ luôn dương quanh năm, bảo đảm nền nhiệt dồi dào cho sự phát triển của thảm thực vật rừng nhiệt đới. Tổng số giờ nắng trung bình năm ghi nhận tại trạm khí tượng Tuyên Quang dao động từ 1.500 đến 1.680 giờ/năm. Số giờ nắng phân bổ không đồng đều: tập trung cao nhất vào các tháng hè thu (tháng 5 – 10 đạt 160 – 190 giờ/tháng), trong khi các tháng đông xuân (tháng 2 – 3) nhiều mây tầng và mưa phùn nên số giờ nắng giảm mạnh chỉ còn 40 – 60 giờ/tháng.
1.2. Hoạt động của hai hệ thống gió mùa luân chuyển
Sự luân phiên của hai khối hoàn lưu gió mùa quyết định chu kỳ thời tiết tại địa phương:
- Gió mùa mùa đông (Gió mùa Đông Bắc): Thống trị từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Xuất phát từ áp cao lục địa Siberi, khối khí cực đới tràn qua biên giới phía Bắc thâm nhập vào Tuyên Quang. Đầu mùa đông (tháng 11 – 12), gió mang tính chất lạnh khô, gây trời quang mây, ngày nắng hanh hao đêm rét buốt. Đến nửa cuối mùa đông (tháng 2 – 3), áp cao lạnh di chuyển lệch đông qua biển làm tăng cường độ ẩm, gây nên hiện tượng mưa phùn và nồm ẩm kéo dài.
- Gió mùa mùa hè (Gió mùa Tây Nam và Đông Nam): Hoạt động mạnh mẽ từ tháng 5 đến tháng 10. Gió Tây Nam từ vịnh Bengal vượt qua các dãy núi phía Tây có thể gây ra hiện tượng phơn khô nóng cục bộ ở các thung lũng sông Lô vào đầu mùa hè. Tiếp đó, gió mùa Đông Nam mang theo khối không khí chí tuyến ẩm từ biển Đông tràn vào, gặp các sườn núi đón gió bị đẩy lên cao ngưng kết thành những trận mưa rào và giông bão dữ dội.
1.3. Cấu trúc địa hình phân bậc từ Bắc xuống Nam
Địa hình Tuyên Quang có sự phân hóa độ cao rất rõ rệt:
- Vùng núi cao phía Bắc (Lâm Bình, Na Hang): Độ cao phổ biến từ 600 m đến trên 1.200 m, nhiều đỉnh núi hiểm trở như đỉnh Cham Chu (1.587 m), Pác Tạ. Nhiệt độ ở vùng này giảm theo quy luật đai cao khí hậu (cứ lên cao 100 m nhiệt độ giảm khoảng 0,6°C), khiến mùa đông ở đây lạnh hơn đáng kể, thường xuất hiện sương muối và băng giá tại các đèo cao.
- Vùng đồi trung du phía Nam (TP. Tuyên Quang, Yên Sơn, Sơn Dương): Độ cao giảm dần xuống dưới 100 m, địa hình chủ yếu là đồi bát úp xen kẽ các dải đồng bằng ven sông Lô. Vùng này có mùa đông ấm hơn, biên độ nhiệt ngày đêm nhỏ hơn và nhận được lượng bức xạ mặt trời cao hơn.
2. Bảng số liệu khí hậu tổng hợp 12 tháng tại trạm khí tượng Tuyên Quang
Dưới đây là chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn chuẩn hóa qua nhiều thập kỷ tại trạm khí tượng Tuyên Quang (tọa độ 21°49’B – 105°13’Đ, độ cao trạm 25 m), phản ánh chính xác các thông số nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm tương đối và thời lượng nắng qua từng tháng:
| Tháng | Nhiệt độ TB (°C) | Nhiệt độ TB Cao (°C) | Nhiệt độ TB Thấp (°C) | Lượng mưa (mm) | Độ ẩm TB (%) | Số giờ nắng (giờ) |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng 1 | 15,6 | 19,4 | 13,2 | 24,8 | 82 | 68 |
| Tháng 2 | 17,0 | 20,2 | 14,7 | 31,5 | 85 | 42 |
| Tháng 3 | 20,1 | 23,5 | 17,9 | 55,2 | 86 | 50 |
| Tháng 4 | 24,3 | 28,4 | 21,5 | 118,6 | 85 | 95 |
| Tháng 5 | 27,4 | 32,2 | 24,1 | 230,4 | 83 | 175 |
| Tháng 6 | 28,8 | 33,4 | 25,6 | 305,2 | 83 | 170 |
| Tháng 7 | 29,0 | 33,6 | 25,8 | 340,5 | 84 | 180 |
| Tháng 8 | 28,4 | 32,9 | 25,2 | 355,8 | 86 | 165 |
| Tháng 9 | 27,1 | 31,9 | 23,8 | 198,4 | 83 | 185 |
| Tháng 10 | 24,4 | 29,6 | 20,9 | 105,2 | 80 | 175 |
| Tháng 11 | 20,8 | 26,0 | 17,2 | 38,5 | 79 | 150 |
| Tháng 12 | 17,3 | 21,8 | 13,9 | 19,6 | 78 | 120 |
| Cả năm | 23,3 | 27,7 | 19,7 | 1.824,7 | 83% | 1.575 |
Nhìn vào chuỗi số liệu định lượng, có thể rút ra những đặc điểm khí hậu nổi bật của tỉnh:
- Biên độ nhiệt độ năm lớn: Chênh lệch giữa nhiệt độ trung bình tháng 7 (29,0°C) và tháng 1 (15,6°C) lên tới 13,4°C. Điều này phản ánh tính chất lục địa sâu sắc của vùng đồi núi phía Bắc, khác biệt hẳn so với các tỉnh đồng bằng duyên hải lân cận.
- Sự chênh lệch vũ lượng cực đoan giữa hai mùa: Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) chiếm tới 84,9% tổng lượng mưa cả năm (1.549,9 mm). Trong khi đó, mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) chỉ chiếm 15,1% vũ lượng (274,8 mm). Bạn có thể tìm hiểu thêm về phân bố vũ lượng không gian qua bài viết lượng mưa trung bình năm ở Tuyên Quang.

3. Diễn biến chi tiết bốn mùa tại tỉnh Tuyên Quang
Sự luân chuyển của các hoàn lưu gió mùa tạo nên một chu kỳ thời tiết bốn mùa xuân, hạ, thu, đông rành mạch và sống động trên khắp địa bàn tỉnh Tuyên Quang:
3.1. Mùa xuân (Tháng 2 – Tháng 4): Tiết trời ấm dần, mưa phùn và nồm ẩm
Mùa xuân bắt đầu khi các đợt không khí lạnh cực đới suy yếu dần và lệch về phía biển Đông. Nhiệt độ trung bình nâng dần từ 17,0°C trong tháng 2 lên 24,3°C vào tháng 4. Đây là giai đoạn xuất hiện mưa phùn dầm dề kèm theo sương mù dày đặc vào sáng sớm, đặc biệt là tại các thung lũng sông Lô, sông Gâm. Độ ẩm tương đối trong không khí tăng vọt, thường xuyên duy trì ở mức 85% – 90%, dẫn đến hiện tượng nồm ẩm đặc thù. Tiết trời ẩm ướt là điều kiện thuận lợi cho các loài hoa rừng đâm chồi nảy lộc và khởi đầu cho mùa vụ gieo cấy lúa xuân của bà con nông dân.
3.2. Mùa hè (Tháng 5 – Tháng 8): Nắng nóng gay gắt, mưa rào và giông lốc
Mùa hè ở Tuyên Quang kéo dài suốt bốn tháng với nền nhiệt độ cao ổn định trên 28°C. Tháng 6 và tháng 7 là hai tháng nóng nhất năm với nhiệt độ cao nhất trung bình ngày từ 33,4°C đến 33,6°C, trong những đợt nắng nóng diện rộng nhiệt độ ghi nhận tại các lều khí tượng có thể vọt lên 38,5°C – 39,5°C tại khu vực thành phố Tuyên Quang và Sơn Dương. Không khí oi ả kết hợp với độ ẩm cao khiến chỉ số cảm nhận nhiệt thực tế ngoài trời (Heat Index) thường xuyên vượt ngưỡng 42°C – 44°C. Vào buổi chiều tối, năng lượng đối lưu khí quyển phát triển mạnh mẽ làm bùng phát các trận mưa rào cục bộ, giông sét và gió giật nguy hiểm.
3.3. Mùa thu (Tháng 9 – Tháng 11): Mùa đẹp nhất năm với khí trời dịu mát hanh vàng
Khi các đợt gió mùa Đông Bắc đầu tiên bắt đầu tràn về, mùa hè oi bức nhanh chóng nhường chỗ cho tiết thu dịu mát. Nhiệt độ trung bình hạ xuống mức lý tưởng 20°C – 27°C, độ ẩm không khí giảm xuống dưới 80%, mang lại cảm giác vô cùng khoan khoái, dễ chịu. Bầu trời Tuyên Quang mùa thu trong xanh, số giờ nắng đạt đỉnh điểm và các đợt mưa lớn chấm dứt. Đây được xem là mùa vàng du lịch của tỉnh, thời điểm diễn ra Lễ hội Thành Tuyên rực rỡ và những chuyến du thuyền thảnh thơi trên lòng hồ Na Hang.
3.4. Mùa đông (Tháng 12 – Tháng 1 năm sau): Rét buốt thấu xương và sương muối vùng cao
Mùa đông tại Tuyên Quang bắt đầu từ cuối tháng 11 và đạt đỉnh điểm buốt giá vào tháng 1. Nhiệt độ trung bình tháng 1 giảm sâu xuống mức 15,6°C, nhiệt độ thấp nhất trung bình đạt 13,2°C. Các đợt không khí lạnh mạnh có thể đẩy nhiệt độ về đêm xuống dưới 7°C – 9°C ở vùng thung lũng ven sông, và dưới 3°C – 5°C tại các xã vùng cao của huyện Na Hang, Lâm Bình. Nửa đầu mùa đông trời hanh khô, ban đêm phát xạ nhiệt mạnh gây rét buốt; vùng núi cao xuất hiện hiện tượng sương muối cục bộ gây hại cho hoa màu và đàn gia súc. Để có cẩm nang phòng chống rét, bạn có thể tham khảo thêm bài viết phân tích thời điểm lạnh nhất trong năm tại Tuyên Quang.

4. Vai trò của hệ thống thủy văn: Sông Lô, sông Gâm và Thủy điện Tuyên Quang
Thủy văn Tuyên Quang có quy mô đồ sộ và giữ vai trò chiến lược sống còn đối với an ninh nguồn nước và phòng chống lũ lụt cho toàn bộ vùng đồng bằng Bắc Bộ:
4.1. Trục sông Lô và sông Gâm – Huyết mạch bồi đắp và thoát lũ
Sông Lô bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), chảy qua Hà Giang rồi vào Tuyên Quang với chiều dài qua tỉnh hơn 145 km. Sông Gâm là phụ lưu cấp 1 lớn nhất của sông Lô, bắt nguồn từ vùng núi cao biên giới phía Bắc, chảy qua Cao Bằng, Hà Giang về Na Hang, Chiêm Hóa trước khi hợp lưu với sông Lô tại ranh giới Yên Sơn. Hệ thống sông ngòi này mang nguồn phù sa trù phú bồi đắp cho các bãi bồi nông nghiệp ven sông, đồng thời là tuyến vận tải đường thủy quan trọng nối Tuyên Quang với Phú Thọ, Hà Nội.
4.2. Công trình Thủy điện Tuyên Quang – Lá chắn cắt lũ và lá phổi vi khí hậu
Nằm trên dòng sông Gâm tại thị trấn Na Hang, Thủy điện Tuyên Quang là một trong những công trình năng lượng trọng điểm quốc gia với công suất lắp máy 342 MW (gồm 3 tổ máy). Hồ chứa thủy điện có diện tích mặt nước rộng hơn 8.000 ha và dung tích hữu ích lên đến 2,24 tỷ m³ nước:
- Cắt lũ cho hạ du: Vào mùa mưa bão, hồ thủy điện Tuyên Quang cùng với thủy điện Hòa Bình và Thác Bà tạo thành thế chân vạc điều tiết, cắt giảm hàng tỷ mét khối nước lũ từ thượng nguồn đổ về, bảo vệ an toàn cho thành phố Tuyên Quang, các tỉnh đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội.
- Điều hòa tiểu khí hậu lòng hồ: Diện tích mặt nước mênh mông 8.000 ha tựa như một “máy điều hòa không khí khổng lồ”. Vào mùa hè, hồ hấp thụ nhiệt lượng làm giảm nhiệt độ không khí xung quanh từ 1,5°C đến 2°C, tạo độ ẩm mát mẻ quanh năm và kiến tạo cảnh quan sinh thái tuyệt mỹ thu hút du khách thập phương.
- Cấp nước vào mùa cạn: Vào mùa đông khô hạn, hồ xả lưu lượng ổn định phục vụ các đợt lấy nước gieo cấy lúa vụ đông xuân cho hàng triệu hecta đồng ruộng vùng hạ du sông Hồng.
5. Biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan tại Tuyên Quang
Trong những năm gần đây, quy luật thời tiết tại Tuyên Quang đã và đang bộc lộ những biến động dị thường rõ rệt do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu:
5.1. Mưa lớn thượng nguồn và áp lực xả lũ lịch sử
Biến động lượng mưa thể hiện qua tần suất xuất hiện các đợt mưa cường độ đặc biệt lớn trong thời gian ngắn ngày càng gia tăng. Tiêu biểu nhất là sự kiện hoàn lưu bão số 3 (siêu bão Yagi) vào tháng 9 năm 2024, gây lượng mưa tích lũy trên toàn tỉnh từ 300 mm đến trên 450 mm. Lưu lượng nước về hồ thủy điện Tuyên Quang có thời điểm lên tới trên 6.000 m³/s, buộc nhà máy thủy điện phải mở tối đa cả 8 cửa xả đáy (lần đầu tiên trong lịch sử kể từ khi vận hành). Mực nước sông Lô tại trạm Tuyên Quang dâng cao vượt báo động 3 làm ngập lụt sâu diện rộng tại thành phố Tuyên Quang và nhiều huyện ven sông. Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm về nguy cơ này qua bài viết nguy cơ lũ lụt và sạt lở đất tại Tuyên Quang.
5.2. Lũ quét, sạt lở đất sườn đồi núi karst
Tại các huyện miền núi Na Hang, Lâm Bình, Chiêm Hóa, mưa lớn kéo dài thẩm thấu qua các tầng phong hóa đất đá dốc đứng, gây ra các vụ trượt lở đất taluy nghiêm trọng, chia cắt các tuyến đường quốc lộ 279, quốc lộ 2C và đe dọa các cụm dân cư dưới chân đồi.
5.3. Nắng nóng gay gắt và khô hạn cục bộ
Vào đầu mùa hè (tháng 5 – 6), hiệu ứng phơn khô nóng kết hợp hiện tượng El Nino khiến nhiệt độ nhiều ngày chạm ngưỡng 39°C, làm mực nước các nhánh suối nhỏ cạn kiệt, gây nguy cơ cháy rừng và thiếu hụt nước tưới cho cây chè, cây ăn quả (cam sành Hàm Yên, bưởi Soi Hà).

6. Cẩm nang thích ứng khí hậu cho đời sống và sản xuất tại Tuyên Quang
Nhằm giảm thiểu thiệt hại thiên tai và khai thác tối ưu thế mạnh tự nhiên, chính quyền và người dân Tuyên Quang đang triển khai đồng bộ các giải pháp thích ứng thông minh:
- Chủ động canh tác nông nghiệp theo mùa vụ: Bố trí lịch gieo cấy lúa xuân né tránh các đợt rét đậm rét hại tháng 1; đầu tư hệ thống tưới tiết kiệm cho các vùng chuyên canh cam sành Hàm Yên, chè Bát Tiên; chủ động che chắn màng nilon chống sương muối cho vườn ươm cây giống.
- Vận hành xả lũ an toàn và liên hồ chứa: Phối hợp chặt chẽ quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng; kích hoạt kịch bản sơ tán dân cư vùng trũng ven sông Lô, sông Gâm trước khi mở các cửa xả lũ lớn ít nhất 12 – 24 tiếng.
- Bảo vệ rừng đầu nguồn và phục hồi thảm phủ: Tăng cường quản lý nghiêm ngặt Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang – Lâm Bình, nghiêm cấm phá rừng làm nương rẫy trên đất dốc để giữ đất, chống sạt lở và nuôi dưỡng nguồn nước ngầm bền vững.
7. Câu hỏi thường gặp về khí hậu và thời tiết tỉnh Tuyên Quang (FAQ)
1. Khí hậu Tuyên Quang có sự phân hóa như thế nào giữa các huyện phía Bắc và phía Nam?
Khí hậu Tuyên Quang phân hóa rất rõ rệt theo độ cao: các huyện vùng núi cao phía Bắc như Na Hang, Lâm Bình có độ cao trên 600 – 1.000 m nên mùa đông đến sớm, nhiệt độ trung bình năm thấp hơn từ 1,2°C đến 2°C và thường xuất hiện sương muối trên các sườn đồi. Ngược lại, khu vực trung du phía Nam như thành phố Tuyên Quang, huyện Sơn Dương, Yên Sơn có địa hình bằng phẳng ven sông Lô, nền nhiệt cao hơn và mùa hè nóng ẩm hơn.
2. Hồ thủy điện Tuyên Quang đóng vai trò điều hòa vi khí hậu và phòng chống lũ như thế nào?
Với diện tích mặt nước rộng trên 8.000 ha và dung tích hữu ích hơn 2,24 tỷ m³, hồ thủy điện Tuyên Quang hoạt động như một hồ điều hòa sinh thái khổng lồ. Hồ giúp hấp thu nhiệt lượng làm mát bầu không khí xung quanh vào mùa hè, đồng thời giữ vai trò then chốt cắt giảm hàng tỷ mét khối nước lũ trong mùa mưa bão để bảo vệ an toàn cho thành phố Tuyên Quang, lưu vực sông Lô và thủ đô Hà Nội.
3. Mùa mưa tại Tuyên Quang bắt đầu và kết thúc vào thời gian nào trong năm?
Mùa mưa tại Tuyên Quang bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10 hàng năm, chiếm tới 80% đến 85% tổng lượng mưa của cả năm. Đỉnh điểm mưa tập trung vào các tháng 6, 7 và 8 với những đợt mưa rào cường độ lớn kết hợp giông sét và hoàn lưu bão. Người dân sinh sống ven sông suối và các sườn núi dốc cần đặc biệt đề phòng lũ quét và ngập úng trong giai đoạn này.