Lượng mưa trung bình năm ở Bắc Ninh dao động từ 1.400 đến 1.700 mm, phản ánh đúng đặc điểm khí hậu cận nhiệt đới ẩm gió mùa của vùng Đồng bằng sông Hồng. Con số này phân bố không đồng đều, tập trung mạnh vào mùa hè, tạo nên chế độ thủy văn đặc trưng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế, sản xuất của người dân địa phương. Thông tin dưới đây được tổng hợp từ ba nhóm dữ liệu chính: đặc điểm khí hậu, địa lý tự nhiên, và tác động đến văn hóa sản xuất.

Đặc điểm lượng mưa và chế độ khí hậu Bắc Ninh

Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm gió mùa, chia rõ bốn mùa. Lượng mưa trung bình năm đạt 1.400 – 1.700 mm, tương đương mức chung của đồng bằng Bắc Bộ. Mưa phân bố không đồng đều, mùa mưa chiếm tới 80% tổng lượng nước, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9.

Tháng 8 là đỉnh điểm với 337 mm, tháng 7 đạt 332 mm, sau đó giảm nhanh từ tháng 10. Mùa khô tập trung ở tháng 12, chỉ ghi nhận khoảng 23 mm. Tổng số ngày mưa cả năm lên đến 130 ngày.

Nền nhiệt biến động mạnh theo mùa. Tháng 6 nóng nhất với trung bình 33°C, có lúc vượt 38°C. Tháng 1 lạnh nhất, trung bình 16,5°C, từng xuất hiện đợt rét dưới 10°C. Chênh lệch nhiệt độ hai mùa đạt 15 – 16°C. Độ ẩm không khí quanh năm ở mức cao, dao động 79% – 82%.

Số giờ nắng trung bình 1.530 – 1.776 giờ/năm. Những năm gần đây, nắng nóng gay gắt kéo dài hơn, mùa đông ngắn lại và ít rét hại, trong khi mưa lớn bất thường gia tăng, gây áp lực lên hệ thống thoát nước đô thị và nông nghiệp.

Vị trí địa lý, địa hình và hệ thống sông ngòi

Tỉnh nằm ở phía Bắc vùng Đồng bằng sông Hồng, cách Hà Nội khoảng 50 km về phía Đông Bắc. Địa hình chuyển tiếp từ đồng bằng lên trung du, phía bắc và đông nam là vùng rừng núi cao 300 – 900 m, xen kẽ bởi vùng đồi thấp và đồng bằng nằm kẹp giữa hai cánh cung Đông Triều và Bắc Sơn. Mạng lưới sông ngòi dày đặc, mật độ đạt 1 – 1,2 km/km², bao gồm sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình, sông Thương và sông Lục Nam.

Hệ thống sông này đóng vai trò chủ đạo trong điều tiết và tiêu thoát nước. Sông Đuống chảy qua địa phận tỉnh dài 42 km, lưu lượng bình quân 31,6 tỷ m³. Sông Cầu có đoạn hữu ngạn dài 70 km với lưu lượng khoảng 5 tỷ m³/năm.

Sông Thái Bình có đoạn chảy qua dài 17 km, mực nước lũ lịch sử năm 1971 đạt 7,21 m. Bên cạnh nước mặt, trữ lượng nước ngầm khá lớn, trung bình 400.000 m³/ngày, tầng chứa nước nằm sâu 3 – 5 m, bề dày khoảng 40 m, chất lượng tốt, phục vụ trực tiếp cho sản xuất và sinh hoạt.

Tác động của khí hậu đến làng nghề và sản xuất

Chế độ mưa và độ ẩm cao tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất và bảo tồn di sản. Độ ẩm 80% – 82% vào mùa hè là thách thức lớn với gốm Phù Lãng (dễ ẩm mốc, lâu khô) và tranh giấy Đông Hồ (dễ biến dạng, phai màu, hỏng lớp giấy điệp).

Đất sét làm gốm có trữ lượng khoảng 4 triệu tấn tại Quế Võ và Tiên Du, đòi hỏi người thợ phải kiểm soát vi khí hậu chặt chẽ. Ngành đúc đồng Đại Bái cũng chịu áp lực từ cái oi bức khi vận hành lò nung. Ngược lại, mùa đông khô ráo là điều kiện lý tưởng để chế tác gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, giúp sản phẩm ổn định kích thước.

Trong nông nghiệp, lượng mưa tập trung vào mùa hè thuận lợi cho cây lúa nước và hoa màu, nhưng dễ gây ngập úng cục bộ tại vùng trũng, ảnh hưởng đến thu hoạch và bảo quản lương thực. Để thích ứng, tỉnh đang đẩy mạnh quy hoạch hồ điều tiết, nâng cấp kênh mương tiêu thoát nước và áp dụng công nghệ cảnh báo sớm thiên tai.

Người dân và doanh nghiệp chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang giống chịu hạn/chịu úng, đồng thời đầu tư kho bảo quản kín, máy hút ẩm cho các xưởng thủ công. Phát triển kinh tế xanh, kết hợp du lịch sinh thái với bảo tồn di sản đang trở thành hướng đi bền vững để cân bằng giữa khai thác tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu.