Giai đoạn lũ lụt năm 2025 ở khu vực miền Trung vừa kết thúc để lại những con số vượt ngoài mọi ngưỡng an toàn từng được ghi chép. Bắt đầu từ giữa tháng 11, vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đối mặt với hiện tượng thời tiết cực đoan mà giới chuyên môn nhận định là trái ngược với quy luật vận động tự nhiên trong ba thập kỷ qua.
Sự kiện này không những gây tổn thất nặng nề về nhân mạng lẫn tài sản mà còn đặt ra thách thức mới trong công tác thích ứng với biến đổi khí hậu khi các mốc kỷ lục liên tiếp bị xóa sổ.
Tính đến sáng 24/11, con số thương vong chính thức là 102 người. Tổng thiệt hại tài chính dự kiến vượt mốc 13.000 tỷ đồng, gần 186.000 ngôi nhà chìm trong nước, hơn 80.000 ha cây trồng nông nghiệp bị hư hại, cùng hơn 3,2 triệu con vật nuôi bị cuốn trôi.
Các địa phương hứng chịu tác động nặng nề nhất là Đắk Lắk, Khánh Hòa, Gia Lai và Lâm Đồng. Giao thông tê liệt, hệ thống điện và thông tin liên lạc bị gián đoạn trên diện rộng. Đây không phải là một đợt lũ thông thường mà là một chuỗi các sự kiện hiếm gặp, gần như chưa từng xuất hiện trong hơn 50 năm quan trắc.
Lũ đi ngược quy luật 30 năm qua

Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia Mai Văn Khiêm khẳng định đợt mưa lũ kéo dài từ ngày 16 đến 22 tháng 11 năm 2025 đã san bằng mọi kỷ lục lịch sử trước đó. Cụ thể, trạm đo tại Sơn Hòa (Đắk Lắk) ghi nhận lượng mưa 601,2 mm, còn Quy Nhơn (Gia Lai) đạt 380,6 mm.
Những con số này thậm chí chưa phản ánh hết mức độ khốc liệt, bởi các điểm quan trắc ở Sơn Thành Tây, Sơn Thành Đông, Hòa Mỹ Tây cùng sông Hinh đã hứng chịu mưa từ 1.000 đến 1.200 mm chỉ trong vài ngày ngắn ngủi. Theo tiêu chí của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), đây là hiện tượng cực đoan khó lòng dự báo chính xác.
Điều kiện nền đất đã ngậm nước trước đó đóng vai trò then chốt làm trầm trọng thêm thảm họa. Ông Khiêm phân tích, lượng mưa tích lũy suốt từ tháng 10 đến giữa tháng 11.2025 tăng vọt, cao hơn mức trung bình dài hạn tới 120 – 200%.
Trong trạng thái đất bão hòa, chỉ cần thêm 300 – 500 mm mưa là đủ kích hoạt lũ lớn. Đáng chú ý, đợt lũ năm nay còn đảo lộn hoàn toàn khung thời gian truyền thống.
Số liệu quan trắc 30 năm qua cho thấy các trận lũ lớn ở Nam Trung Bộ thường xuất hiện trước ngày 15.11, nhưng đợt lũ 2025 lại lùi về muộn hơn hẳn. Sự lệch nhịp này minh chứng rõ nét cho việc quy luật lũ cũ đang bị phá vỡ, phản ánh xu hướng thời tiết ngày càng khắc nghiệt và khó lường dưới tác động của biến đổi khí hậu.
Phân tích khoa học: Trận lũ tổ hợp hiếm gặp

PGS.TS Nguyễn Tiền Giang, Trưởng khoa Khí tượng Thủy văn thuộc Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), xác định sự kiện này là một “trận lũ tổ hợp” độc đáo, nơi nhiều nhân tố bất lợi hội tụ và khuếch đại lẫn nhau. Ông giải thích cơ chế hình thành “lũ phức hợp” thông qua sự đồng bộ hóa của các tầng thủy văn: từ biển, khí quyển đến mặt đệm lòng dẫn đều ở trạng thái lý tưởng cho việc tích tụ và giữ nước.
Tầng biển: Hệ thống ENSO đang vận hành theo pha La Nina. Điều này khiến khu vực phía nam Biển Đông cùng dải duyên hải Trung Bộ và Nam Trung Bộ nằm trong vùng có lượng mưa cao hơn trung bình. Dự báo khí hậu chỉ ra xu hướng La Nina duy trì đến cuối năm 2025, làm gia tăng xác suất xuất hiện mưa lớn và bão mạnh so với mức trung bình nhiều năm.
Tầng khí quyển: Trên nền khí hậu “nhiều nước” ấy, Nam Trung Bộ còn chịu tác động kép từ không khí lạnh tăng cường từ phía bắc và nhiễu động gió đông hoạt động mạnh. Khối không khí lạnh tràn xuống hoạt động như một bức tường chắn, dẫn đường cho luồng không khí ẩm, nóng từ biển tiến sâu vào đất liền.
Khi gặp dãy Trường Sơn, khối khí này bị chặn lại, buộc phải bốc lên cao, gây ra hiện tượng ngưng tụ mạnh ở sườn đông. Kết quả là những cơn mưa như trút nước, cường độ lớn và kéo dài, đưa lượng mưa thực tế vượt xa các kỷ lục lịch sử trước đó.
Tầng mặt đệm & lòng dẫn: Lưu vực bước vào đợt lũ với trạng thái bão hòa, tương tự như một chiếc cốc đã đầy sẵn nước. Cụ thể, trong giai đoạn từ ngày 16 đến 22 tháng 11, tổng lượng lũ trong 7 ngày đổ về trạm Củng Sơn trên lưu vực sông Ba đạt khoảng 4,0 tỉ mét khối. Con số này vượt khoảng 1,4 tỉ mét khối so với trận lũ lịch sử năm 1993 (khi đó lưu lượng chỉ khoảng 2,6 tỉ mét khối).
Địa hình lòng dẫn sau nhiều trận lũ trước đã bị biến đổi, làm giảm khả năng thoát nước. Nghiên cứu từ châu Âu về hiện tượng “lũ tiếp sau lũ” khẳng định rằng sau mỗi đợt lũ lớn, sức cản thủy lực trong lòng dẫn tăng lên. Do đó, với cùng một lưu lượng dòng chảy, mực nước tại các trận lũ sau có thể dâng cao hơn nhiều so với các trận trước.
Yếu tố triều cường: Cuối cùng, quá trình thoát lũ ra biển gặp phải các điểm nghẽn nghiêm trọng. Trong giai đoạn cao điểm mưa lũ, thường từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau, vùng Nam Trung Bộ chịu ảnh hưởng của triều cường kết hợp với sóng lớn do gió mùa Đông Bắc.
Độ cao sóng ngoài khơi lúc này có thể đạt từ 2,5 đến 2,7m. Khi nước lũ từ sông đổ ra đúng thời điểm sóng lớn và triều dâng, chúng gặp phải một “bức tường nước” vô hình, khiến quá trình thoát lũ ra biển bị chậm lại rất nhiều.
Bối cảnh biến đổi khí hậu và xu hướng thiên tai mới

Dữ liệu quan trắc từ Bắc, Trung đến Tây Nguyên trong giai đoạn 2024–2025 cho thấy sự xuất hiện rõ rệt của các xu hướng thiên tai mới. Bão Yagi năm 2024 gây lũ đặc biệt lớn trên hầu hết các con sông miền Bắc, khiến các tuyến sông Thao, Cầu, Thương và Lục Nam đều vượt mốc lịch sử hơn 40 năm.
Một năm sau, vào tháng 10/2025, miền Bắc tiếp tục chìm trong nước với hơn 230.000 ngôi nhà bị ngập sâu cùng nhiều sự cố đê điều; đặc biệt, sông Cầu đã hai năm liên tiếp phá mốc lịch sử, một hiện tượng chưa từng có trong dữ liệu thủy văn Việt Nam.
Tại Quảng Ngãi, số liệu khí tượng ghi nhận trong 5 năm gần đây, lượng mưa tại nhiều xã, phường trung tâm TP Quảng Ngãi đạt mức 532 – 576 mm, vượt xa kỷ lục 525 mm của năm 2009. Tương tự, ở Khánh Hòa, sáng 20/11, lũ trên sông Dinh tại Ninh Hòa đã vượt mức lịch sử năm 1986, trong khi tại trạm Củng Sơn trên sông Ba (thuộc khu vực Phú Yên cũ), lũ vượt đỉnh lũ lịch sử năm 1993 hơn 1 m, sau đó rút chậm và vẫn duy trì ở mức cao hơn lịch sử.
Huế trở thành tâm điểm của chuỗi mưa lũ bất thường cuối tháng 10 và đầu tháng 11/2025 tại miền Trung. Chỉ trong khoảng thời gian chưa đầy 7 ngày, từ 26/10 đến 3/11, thành phố này hứng chịu 3 đợt lũ liên tiếp.
Hai đợt đầu đạt đỉnh vào ngày 27 và 29/10, làm 32/40 xã, phường bị ngập với độ phổ biến từ 0,5 đến 1 m. Ngay khi mực nước rút xuống dưới báo động 3, mưa lớn ập trở lại, đẩy nước sông Hương và sông Bồ vượt báo động 3, khiến hạ du tái ngập trong thời gian rất ngắn.
Số liệu đo đạc tại trạm Phú Ốc trên sông Bồ vào trưa 3/11 đã xác lập kỷ lục mới: mực nước đạt 5,28 m, cao hơn báo động 3 là 0,78 m và vượt đỉnh lũ lịch sử ghi nhận hôm 29/10. Điều này đồng nghĩa với việc trong vòng một tuần, cùng một lưu vực đã hai lần phá vỡ kỷ lục lịch sử, gây thiệt hại nghiêm trọng đối với giao thông, thủy lợi, nông lâm thủy sản cũng như di sản cố đô, với chi phí khắc phục lên tới hàng nghìn tỉ đồng.
So sánh với các trận lũ lịch sử trước đó

Đợt lũ này tạo nên kịch bản hiếm hoi khi nhiều lưu vực – lên tới 3 đến 5 khu vực – cùng lúc vỡ trận, phá vỡ các mốc kỷ lục vốn ít khi xuất hiện hơn nửa thế kỷ qua. Hiện tượng này nằm ngoài phạm vi tính toán thông thường. Ông Mai Văn Khiêm cho biết, trong khoảng thời gian từ 16 đến 22 tháng 11, tình trạng lũ lớn, đặc biệt lớn và lịch sử đã lan rộng dọc theo hành lang sông từ Quảng Trị kéo dài đến Khánh Hòa và Lâm Đồng.
Các trạm đo thủy văn ghi nhận mức nước vượt xa những con số cao nhất trong 30 đến 40 năm qua, điển hình như sông Kỳ Lộ, hạ lưu sông Ba tại Đắk Lắk, hay sông Dinh Ninh Hòa ở Khánh Hòa. Riêng đỉnh lũ trên sông Ba tại trạm Phú Lâm được ước tính có chu kỳ lặp lại khoảng 50 năm.
Sự kiện này còn đặc biệt khi các con sông chủ chốt lần lượt vượt mốc lịch sử đã từng được ghi nhận: sông Kỳ Lộ phá kỷ lục năm 2009, sông Ba vượt mốc 1993, và sông Dinh Ninh Hòa vượt mốc 1986. Tình trạng đồng loạt vượt lũ của nhiều tuyến sông lớn phản ánh rõ nét mức độ tổn thương của quốc gia trước các biến động thời tiết cực đoan.
Tại Nam Trung Bộ, nơi địa hình hẹp, dốc cùng mật độ dân cư và công trình xây dựng dày đặc ven bờ, khu vực này đang hứng chịu tác động nặng nề. Đặc điểm địa hình khiến dòng nước từ thượng nguồn dồn về nhanh chóng; nếu hệ thống tiêu thoát hạ lưu bị tắc nghẽn hoặc thu hẹp do các công trình xây dựng, mực nước sẽ tăng vọt. Điều này đòi hỏi phải xem xét nghiêm túc vai trò của hạ tầng trong việc kiểm soát ngập lụt tại các đô thị và vùng lân cận sông.
Thiệt hại kinh tế và tác động xã hội
Hậu quả của trận lũ lịch sử này nghiêm trọng, khiến 102 người thiệt mạng hoặc mất tích và gây thiệt hại kinh tế lên tới hơn 13.000 tỉ đồng. Hệ thống hạ tầng và sinh kế người dân bị tàn phá nặng nề, với hơn 186.000 ngôi nhà chìm trong nước, hơn 80.000 ha cây trồng nông nghiệp bị hư hại và hơn 3,2 triệu con vật nuôi bị cuốn trôi. Trong đó, các tỉnh Đắk Lắk, Khánh Hòa, Gia Lai và Lâm Đồng là những địa phương chịu tác động nặng nề nhất.
Tại Bình Định, giai đoạn từ ngày 29/11 đến 1/12 ghi nhận hơn 31.000 hộ dân bị ngập, kèm theo tình trạng hàng chục ha lúa hoa màu bị phá hủy. Đặc biệt tại huyện Tuy Phước, khoảng 11.000 nhà bị ngập sâu, nhiều công trình bị hư hỏng, tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân địa phương.
Trong khi đó, ở Phú Yên, từ ngày 26/11 trở đi, mưa lũ đã khiến 10 người tử nạn hoặc mất tích, 2.965 nhà bị ngập nước và 4 nhà sập hoàn toàn. Công trình thủy lợi bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi 19.377m kênh mương bị đổ vỡ, hư hỏng, cùng khoảng 36.900m3 đất đá bị sạt lở và bồi lấp. Hệ thống giao thông cũng bị cô lập do nhiều tuyến đường tỉnh, huyện, xã ngập sâu và bị chia cắt.
Khung cảnh tan hoang hiện hữu tại các khu dân cư ven sông Ba, trải dài từ TP Tuy Hòa qua Phú Hòa, Sơn Hòa đến Sông Hinh, nơi tài sản người dân bị phá hủy, nhiều hộ trắng tay. Người dân vùng trũng nhanh chóng ứng phó bằng việc dọn dẹp và kê cao đồ đạc.
Nhấn mạnh rủi ro trong tương lai, PGS.TS Nguyễn Tiền Giang cảnh báo rằng dù tần suất lũ có thể giảm, nhưng cường độ cực đoan sẽ gia tăng nếu không thay đổi tư duy quy hoạch và vận hành công trình. Nếu không điều chỉnh kịp thời, thiệt hại vượt xa con số 13.000 tỉ đồng là điều khó tránh khỏi.
Mỗi đợt lũ như một bản đồ thực tế chỉ ra các điểm yếu, nút thắt thoát lũ và khu vực cần ưu tiên nâng cấp hạ tầng. Thách thức đặt ra là liệu có đủ quyết tâm chuyển hóa những bài học đắt giá sau thiên tai thành hành động cụ thể trước khi một thảm họa khác ập đến hay không.