Áp thấp nhiệt đới sẽ mạnh lên thành bão sau khoảng 1, 2 ngày khi đi vào Biển Đông. Trong thời gian này, sức gió của hệ thống sẽ tăng dần từ cấp 6, 7 lên cấp 8 trở lên.
Thời điểm và điều kiện áp thấp nhiệt đới mạnh lên thành bão

Việc một áp thấp nhiệt đới chuyển hóa thành bão không xảy ra ngay tại thời điểm hình thành hay khi vừa mới tiếp cận bờ biển Việt Nam, mà cần một quá trình tích tụ năng lượng và hoàn thiện cấu trúc khí quyển trong một khoảng thời gian nhất định. Thông thường, sau khi đi vào Biển Đông, hệ thống này cần từ 1 đến 2 ngày để tăng cường sức mạnh và trở thành bão.
Cụ thể, trường hợp của áp thấp nhiệt đới vào Biển Đông vào sáng ngày 17 tháng 9 cho thấy nó đã mạnh lên thành bão số 4 vào ngày 18 tháng 9 khi di chuyển đến vùng biển giữa Biển Đông.
Quá trình mạnh lên cũng có thể diễn ra ngay trên khu vực lân cận; ví dụ như một áp thấp nhiệt đới hoạt động trên vùng biển phía Đông Nam khu vực Bắc Biển Đông đã chuyển thành bão số 3 vào ngày 5 tháng 8. Tương tự, những áp thấp nhiệt đới được hình thành gần Philippines cũng có xu hướng mạnh thêm thành bão và đi vào Biển Đông trong vòng 1 đến 2 ngày.
Đường đi và dự báo đổ bộ của bão mới

Hướng di chuyển của bão sau khi mạnh lên phụ thuộc vào các hệ thống khí quyển chi phối như gió mùa Tây Nam và áp cao cận nhiệt đới. Hiện tại, quỹ đạo và cường độ phát triển của các hệ thống này còn tiềm ẩn nhiều biến động. Áp cao cận nhiệt đới có biến động nhiều, cùng với việc áp thấp nhiệt đới phải chia sẻ năng lượng, lượng ẩm với các cơn bão khác đang hoạt động ở Tây Bắc Thái Bình Dương, khiến khả năng đổ bộ khó dự đoán chính xác tuyệt đối.
Thông thường, bão có xu hướng di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc, hướng về Bắc Vịnh Bắc Bộ với xác suất khoảng 50-60%. Một kịch bản khác là bão di chuyển thẳng vào khu vực Trung Trung Bộ hoặc sau khi mạnh lên sẽ đổi hướng lên Tây Tây Bắc, ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Tuy nhiên, cũng có trường hợp bão di chuyển theo hướng Đông, đi vào khu vực phía Tây Bắc đảo Luzon của Philippines và suy yếu, không ảnh hưởng đến đất liền Việt Nam.
Tác động thời tiết và rủi ro thiên tai

Diễn biến thời tiết chịu tác động trực tiếp từ quỹ đạo và cường độ của bão, gây ra những biến động mạnh cả trên biển lẫn đất liền. Tại khu vực Biển Đông, vùng biển phía Đông Kinh tuyến 114 và phía Bắc vĩ tuyến 14 thường xuyên đối mặt với gió mạnh, sóng lớn và tình trạng biển động dữ dội, trong khi chiều cao sóng có thể lên tới 2–4 m. Những tàu thuyền đang hoạt động trong các vùng nguy hiểm này cần hết sức thận trọng.
Trên đất liền, Bắc Bộ cùng các tỉnh từ Thanh Hóa đến Bắc Trung Bộ nằm trong nhóm khu vực có nguy cơ cao nhất. Khi bão ảnh hưởng, lượng mưa phổ biến dao động từ 70–150 mm, với cục bộ có nơi vượt mức 250 mm. Nguy cơ lũ quét tại các sông suối nhỏ và sạt lở đất ở các sườn dốc sẽ gia tăng mạnh, tại các tỉnh miền núi như Lai Châu, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Quảng Ninh.
Mưa dông cũng quay trở lại Bắc Bộ trong khoảng thời gian từ ngày 6–8/10. Với hướng di chuyển chủ yếu về phía Tây Tây Bắc, khả năng xuất hiện một đợt mưa lớn diện rộng bao trùm khu vực Bắc Bộ và các tỉnh từ Thanh Hóa đến Nghệ An có thể kéo dài từ ngày 20–7 đến 25–7. Trong các cơn mưa dông, khả năng xảy ra lốc, sét và gió giật mạnh cũng được cảnh báo.
Đặc điểm kỹ thuật và sức gió của bão

Dấu hiệu nhận biết sự chuyển đổi từ áp thấp nhiệt đới sang bão nằm ở cường độ gió. Ngay khi mới xuất hiện, hệ thống này thường có sức gió cực đại vùng gần tâm ở mức cấp 6, tương ứng với vận tốc 39-49 km/giờ, kèm theo gió giật cấp 8.
Để được xếp vào nhóm bão, tiêu chuẩn bắt buộc là sức gió mạnh nhất vùng gần tâm phải đạt ít nhất cấp 8, tức khoảng 62-74 km/giờ, với các đợt giật cấp 10. Minh chứng rõ nét là trường hợp bão số 3 năm 2026 (tên quốc tế KUJIRA), khi tăng cường đã đáp ứng đúng ngưỡng này.
Quá trình di chuyển qua vùng biển giữa Biển Đông hoặc khu vực phía Bắc đảo Luzon có thể giúp bão duy trì hoặc tiếp tục mạnh lên ở mức cấp 8, giật cấp 10. Tại khu vực gần tâm, sức gió có thể gia tăng, lên tới cấp 10 – 11 và giật cấp 14.